Chúa Nhật thứ XXVIII Mùa Thường Niên, Năm A -- Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới


Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới. -- Mt 22:1-14

Vị vua ở đây rõ ràng là Thiên Chúa. Người Con mà tiệc cưới được tổ chức để mừng chính là Con vua Đavít, xét theo ánh sáng của Cựu Ước, Người được hưởng địa vị làm con Thiên Chúa nhờ giao ước Đavít (2 Sm 7,14; Tv 2,7; 89,26–27). Hình ảnh hôn ước xuất hiện rất nhiều trong Kinh Thánh để diễn tả mối tương quan giữa Đức Chúa và Israel (Hs 1–3; Is 54; Gr 2–3; Ed 16, 23; v.v.). Ít được chú ý hơn là những đoạn phản ánh mối tương quan hôn ước giữa Con vua Đavít và Israel (2 Sm 5,1; 17,3; Tv 45; nhìn chung là sách Diễm Ca). Vai trò của Con vua Đavít với tư cách là chàng rể của dân Người là một phần trong cách Người đại diện cho Thiên Chúa là Cha mình. Đặc tính phu thê của Chúa Cha được phản ánh nơi Chúa Con.

Một số dụ ngôn Chúa Giêsu kể phản ánh những trải nghiệm thường nhật trong cuộc sống; những dụ ngôn khác lại cố ý đưa ra những tình huống khác thường, thậm chí cường điệu. Dụ ngôn này thuộc loại thứ hai, bởi cách hành xử của những vị khách được mời thật khác thường đến mức khó tin.

Những người nghe Chúa Giêsu hẳn sẽ nhận ra đây là một câu chuyện kỳ lạ. Những tình tiết bất ngờ và những bước ngoặt trong câu chuyện được quyết định bởi thực tại mà Chúa Giêsu muốn diễn tả qua các nhân vật, chứ không phải bởi những tập tục trong các đám cưới hoàng gia ở vùng Cận Đông cổ đại.

Những người được “mời” đến dự tiệc cưới chính là các nhà lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem, những người lẽ ra phải ở vào vị thế thuận lợi nhất để nhận ra Chúa Giêsu là Con vua Đavít. Dưới ánh sáng của dụ ngôn Những Tá Điền Sát Nhân trong tuần trước (Mt 21,33–46) và lời than khóc của Chúa Giêsu dành cho Giêrusalem: “Ôi Giêrusalem, […] ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những người được sai đến cùng ngươi!” (Mt 23,37), thì “thành” nơi những kẻ ngược đãi các đầy tớ của nhà vua sinh sống chính là Giêrusalem. Dụ ngôn này cũng tiên báo rõ ràng về sự tàn phá thành Giêrusalem vào năm 70 sau Công nguyên.

Mệnh lệnh “hãy đi ra […] các nẻo đường chính” để mời “bất cứ ai các ngươi gặp” một phần ám chỉ việc Tin Mừng được loan truyền đến dân ngoại, tức những người thuộc tầng lớp thấp kém mà chúng ta đã đề cập vào Chúa nhật XX Thường niên. Điều Chúa Giêsu đã báo trước qua việc chữa lành người phụ nữ Canaan, giờ đây Người lại tiên báo bằng những hình ảnh trong dụ ngôn này.

Hình ảnh đại sảnh của nhà vua chật kín khách, gồm cả người “xấu lẫn người tốt”, gợi nhớ đến dụ ngôn Cỏ Lùng và Lúa Tốt, cũng như dụ ngôn Chiếc Lưới (Mt 13,24–30.36–43; 47–50). Điểm chung của tất cả những dụ ngôn này là: Nước Thiên Chúa không chỉ nói đến đời sau hay thiên đàng. Nước Thiên Chúa là một thực tại đang hiện diện, đã được thiết lập ngay trong thời gian Chúa Giêsu thi hành sứ vụ và được biểu lộ nơi Giáo hội hữu hình, trong đó có cả các thánh lẫn những người tội lỗi. Những phong trào ly giáo tìm cách loại bỏ mọi thành phần ô uế ra khỏi Giáo hội hữu hình đôi khi xuất phát từ thiện chí, nhưng luôn đi sai đường. Ngược lại, những phong trào canh tân kêu gọi mọi người ăn năn sám hối thì luôn đáng được hoan nghênh.

Điều này đưa chúng ta đến việc bàn về “y phục lễ cưới” mà một vị khách nọ không có. Có hai bản văn Kinh Thánh khác giúp chúng ta hiểu biểu tượng này. Trước hết là Isaia 61,10:

Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa,
nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao!
Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ,
choàng cho tôi đức chính trực công minh,
như chú rể chỉnh tề khăn áo,
tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang.

Tiếp đến là Khải Huyền 19,7–8:

Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ và dâng Người lời tôn vinh, vì nay đã đến ngày cử hành tiệc cưới Con Chiên, và Hiền Thê của Người đã sửa soạn sẵn sàng; nàng đã được ban cho mặc áo vải gai mịn, sáng chói và tinh tuyền. (Vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh.)

Dựa trên những bản văn về y phục trong bối cảnh hôn ước này, thuộc cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, chúng ta có cơ sở vững chắc để giải thích “y phục lễ cưới” là “những việc công chính”, nghĩa là cách sống phù hợp với ân sủng của Thiên Chúa và với lời mời tham dự bàn tiệc cưới thần linh.

Do đó, dụ ngôn này đi ngược lại quan điểm “được cứu độ chỉ nhờ đức tin”, nếu cụm từ ấy có nghĩa là một người có thể tin và được cứu độ mà không cần thay đổi đời sống và cách hành xử của mình. Để được cứu độ, chúng ta cần phải thay đổi, cần thực sự sống thánh thiện.

Đồng thời, trong cả sách Isaia lẫn sách Khải Huyền, chính Thiên Chúa là Đấng mặc y phục lễ cưới cho Hiền Thê của Người. Như vậy, sự thánh thiện của chúng ta đến từ Thiên Chúa, chứ không phải do nỗ lực riêng của chúng ta. Đời sống Kitô hữu chính là việc để Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta và cách sống của chúng ta. Vì thế, Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo khẳng định:

“Tình yêu Đức Kitô trong ta là nguồn mọi công trạng của ta trước mặt Thiên Chúa.” Các thánh luôn ý thức sâu sắc rằng những công trạng của mình hoàn toàn là ân sủng:

“Sau cuộc lưu đày trần thế, con hy vọng được vui hưởng nhan Chúa nơi quê thật trên trời. Con không muốn thu thập công trạng để được lên thiên đàng, con làm việc chỉ vì tình yêu Chúa mà thôi... Cuối cuộc đời này, con đến trình diện trước mặt Chúa với đôi bàn tay không, vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Mọi điều công chính của chúng con đều mang tì vết trước nhan Chúa. Con chỉ ao ước mặc lấy sự công chính của Chúa và đón nhận từ tình yêu Chúa phần gia nghiệp đời đời là chính Chúa" (GLHTCG, số 2011, trích dẫn Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Chúng ta hãy nhân dịp cử hành Thánh Thể vào cuối tuần này để thực hiện một cuộc xét mình thật nghiêm túc. Có những mảnh giẻ bẩn nào trong đời sống mà tôi vẫn cố níu giữ không? Điều gì đang ngăn cản tôi để Chúa Giêsu mặc cho mình y phục tinh tuyền? Tuần này, tôi có thể làm gì để Người cởi bỏ những mảnh giẻ rách đáng thương ấy và mặc cho tôi chiếc áo trắng tinh tuyền của Người? Tôi có nên đến tòa giải tội hay tìm gặp vị linh hướng của mình không? --  Dr. John Bergsma, Word of The Lord, Year A



0 Nhận xét