Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nó: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” -- Mt 14,22-33
Chúa Giêsu yêu thích sự đồng hành của người khác. Ngay cả khi đã kiệt sức, Người vẫn phục vụ những đám đông đi theo mình. Nhưng Người cũng cần và tìm kiếm sự cô tịch, như ở phần đầu câu chuyện trong Tin Mừng hôm nay, khi giữa đêm Người lên núi cầu nguyện. Chúng ta cần cả sự hiện diện của người khác lẫn những khoảng thời gian một mình; và nếu chúng ta không ưa thích cũng không tìm kiếm cả hai điều ấy, thì nơi chúng ta có điều gì đó không ổn, cả về phương diện thiêng liêng lẫn tâm lý. Hai điều này cần đi với nhau để cuộc sống được thêm phong phú: nếu không có sự tĩnh lặng, không có đời sống nội tâm, chúng ta sẽ chẳng có gì quý giá hay mạnh mẽ để chia sẻ với người khác; còn nếu xa lánh sự đồng hành với tha nhân, chúng ta cũng không thể có một mối tương giao lành mạnh với Thiên Chúa, bởi vì “ai không yêu thương người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà mình không trông thấy” (1 Ga 4,20).
Chúa Giêsu biết cơn bão sắp nổi lên, nhưng Người vẫn ở lại trên núi cầu nguyện. Người cố ý chờ cho đến khi cơn bão trở nên đe dọa đến tính mạng rồi mới xuất hiện với các môn đệ. Người cũng hành động như thế với chúng ta. Thời điểm của Thiên Chúa không phải là thời điểm của chúng ta, bởi vì sự khôn ngoan của Thiên Chúa không phải là sự khôn ngoan của chúng ta.
Và khi đến với các môn đệ, Người lại xuất hiện trong một hình thức khiến họ kinh hoàng. Chính nỗi kinh hoàng ấy cũng nằm trong kế hoạch hoàn toàn khôn ngoan và đầy yêu thương của Người. Nếu không có nỗi sợ hãi, thì cũng không thể có kinh nghiệm được giải thoát khỏi nỗi sợ ấy. Chúa Giêsu đến với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi những kinh hoàng của cuộc sống, nhưng Người cũng đến với chúng ta ngay trong chính những kinh hoàng ấy. Teilhard de Chardin cầu nguyện trong The Divine Milieu: “Quả thật, điều khổng lồ và tối tăm ấy, bóng ma ấy, cơn bão ấy… chính là Ngài! ‘Chính Thầy đây, đừng sợ.’ Những điều trong cuộc sống khiến chúng ta kinh hãi, những điều đã từng đẩy chính Ngài vào cơn hấp hối trong vườn cây dầu, xét cho cùng, chỉ là những hình thức biểu hiện, những dáng vẻ bề ngoài, chất liệu của cùng một dấu chỉ (sacrament) duy nhất.”
“Chính Thầy đây; đừng sợ.” Đức Kitô không chỉ nói những lời ấy với các môn đệ ngày xưa, mà còn nói với chúng ta hôm nay, nếu chúng ta là môn đệ của Người. Những lời cuối cùng Người nói với chúng ta trong thế gian này, cũng là những lời cuối cùng trong Tin Mừng Matthêu, là: “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Dĩ nhiên, cần có đức tin mới tin được điều đó. Và phần lớn chúng ta, giống như Phêrô, có một chút đức tin, nhưng rất ít — ít đến nỗi Chúa Giêsu nói rằng nó còn nhỏ hơn cả hạt cải tí tị. Tuy vậy, Phêrô vẫn có đủ đức tin để bước ra khỏi thuyền, đặt chân lên mặt biển đang nổi bão và đi trên mặt nước — không cần ván chèo! Tất nhiên, ông chỉ làm điều ấy sau khi nhận được mệnh lệnh rõ ràng của Chúa Giêsu; ông không dại dột đến mức tự làm điều đó dựa trên quyền riêng hay cảm xúc của mình. Nhưng ông lại không có đủ đức tin để tiếp tục khi rời mắt khỏi Chúa Giêsu và quay sang nhìn những cơn gió cùng những ngọn sóng đáng sợ.
Chúng ta cũng giống hệt như thế: càng nhìn vào những vấn đề của mình và càng ít nhìn vào Chúa Giêsu, những vấn đề ấy càng trở nên lớn hơn, khó giải quyết hơn và đáng sợ hơn. Chúng trông giống như những cơn cuồng phong. Nhưng càng nhìn vào Chúa Giêsu thay vì nhìn chằm chằm vào những khó khăn của mình, chúng càng trở nên nhỏ bé khi đặt bên cạnh Người. Đó chính là chìa khóa của đức tin: thay đổi hướng nhìn của mình, nhìn vào Chúa Giêsu và những lời Người đã hứa; không bắt đầu bằng câu: “Ôi, hãy nhìn hoàn cảnh khủng khiếp này,” nhưng bằng: “Thiên Chúa là có thật; Thiên Chúa đã hứa điều này; và vì Thiên Chúa đã phán như vậy, nên tôi sẽ tin.”
Các sách Tin Mừng kể cho chúng ta biết về Phêrô nhiều hơn bất cứ môn đệ nào khác, không chỉ vì Chúa Giêsu đã đặt Phêrô làm “tảng đá” trên đó Người xây Hội Thánh, mà còn vì Phêrô rất giống chúng ta. Ông mắc phải rất nhiều sai lầm. Ông thường nói những điều không nên nói và, như cách người ta vẫn diễn tả, thường tự “đưa chân vào miệng” — nghĩa là nói trước khi kịp suy nghĩ. Thế nhưng Chúa Giêsu lại cố ý chọn ông, chứ không chọn Gioan, người mà Chúa yêu cách đặc biệt hơn, trẻ hơn, trong sáng hơn, là tác giả của những sách sâu sắc nhất trong Tân Ước, người được Chúa Giêsu trao phó Mẹ Maria, và cũng là môn đệ duy nhất trung thành ở lại với Chúa cho đến cùng, trong khi Phêrô đã ba lần chối Chúa.
Hãy nhớ Chúa Giêsu đã chọn loại vật nào để cưỡi vào thành Giêrusalem trong Chúa nhật Lễ Lá. Chúa Giêsu yêu cả những con lừa. Nhưng Người biến chúng thành chiến mã — như Người đã làm với Phêrô, bắt đầu từ ngày lễ Ngũ Tuần.
Chúa Giêsu thường đợi cho đến khi chúng ta lâm vào tình thế thật sự nghiêm trọng rồi mới đến cứu chúng ta. Nhưng Người không chờ quá lâu, cũng không đợi cho đến khi chúng ta trở thành những vị thánh hoàn hảo mới giải cứu chúng ta khỏi những rắc rối mà chính sự thiếu đức tin của chúng ta đã làm cho nghiêm trọng hơn. Vì thế, ngay khi Phêrô bắt đầu chìm xuống, “lập tức” Chúa Giêsu đưa tay ra nắm lấy ông. Người có thể để chúng ta ngã sóng soài và uống khá nhiều nước mặn, nhưng Người không để chúng ta chết chìm.
Tuy nhiên, dù Chúa Giêsu đã đáp lại chút đức tin nhỏ bé của Phêrô và cứu ông, Người không hài lòng với một đức tin nhỏ bé như thế. Người không nói: “Thầy khá hài lòng với đức tin của con, dù nó đã thất bại chỉ sau một phút. Ít ra con cũng đã cố gắng.” Trái lại, Người nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin, sao lại hoài nghi?” Thiên Chúa giống như một người cha tốt: Người dễ vui lòng nhưng khó thỏa mãn. Cả hai đặc điểm ấy đều là những biểu hiện của tình yêu.
Giá như những người cha thời nay giống Thiên Chúa hơn theo cả hai phương diện ấy, thì toàn bộ xã hội ngày càng bệnh hoạn của chúng ta có thể đổi hướng. Bởi vì chúng ta không thể có một xã hội tốt nếu không có những gia đình tốt; không thể có những gia đình tốt nếu không có những người cha tốt; và không thể có những người cha tốt nếu họ không được định hình theo mẫu gương của Thiên Chúa là Cha — Đấng vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, vừa hiền hòa vừa nam tính, chứ không phải chỉ có một mặt và thiếu mặt kia. — Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

0 Nhận xét