“Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi trên đất tốt, nên sinh hoa kết quả : hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì nghe.” (Mt 13:1-23)

Đây là một trong những dụ ngôn dài nhất của Chúa Giêsu, nhưng lại cần một trong những lời giải thích ngắn nhất, bởi chính Chúa đã giải thích rất rõ ràng. Hạt giống tượng trưng cho Tin Mừng, Tin Vui, Lời Thiên Chúa, mà chính là Đức Kitô. Đất tượng trưng cho lòng người. Tại sao có người tin và có người không tin? Phần lớn lý do là vì có mảnh đất màu mỡ và có mảnh đất cằn cỗi; có mảnh đất được chuẩn bị kỹ lưỡng và có mảnh đất không được chuẩn bị.

Hãy lưu ý việc tiền truyền giáo (pre-evangelization) quan trọng biết bao! Nếu một nền văn hóa hay một cá nhân sống thành thật, cởi mở, khao khát tìm kiếm chân lý; nếu lòng họ thật sự hướng về điều thiện và không bị chi phối bởi tính ích kỷ, dục vọng, kiêu ngạo hay tham lam, thì hạt giống Tin Mừng sẽ bén rễ trong tâm hồn ấy và phát triển, có khi ít, có khi nhiều.

Nhưng hạt giống Tin Mừng sẽ không bén rễ và lớn lên trong một đời sống hay một nền văn hóa mà mảnh đất tâm hồn giống như con đường bị quá nhiều người giẫm đạp và quá nhiều chim chóc lui tới (tức là những thần dữ cướp mất hạt giống), hoặc giống như lớp đất nông cạn nơi người ta sống theo cảm xúc bề mặt hơn là sự hiểu biết sâu sắc, hoặc giống như mảnh đất đầy gai góc cạnh tranh khiến hạt giống bị nghẹt thở, không còn chỗ cho sự thinh lặng và cầu nguyện.

Vì thế, công việc đầu tiên của chúng ta là chuẩn bị đất. Việc loan báo Tin Mừng giống như làm nông, phẫu thuật hay hội họa. Trong cả bốn công việc ấy, điều quan trọng nhất và tốn thời gian nhất chính là khâu chuẩn bị—chuẩn bị tâm hồn, mảnh đất, bệnh nhân hay bề mặt để vẽ.

Điều này đúng không chỉ với từng cá nhân mà còn với cả cộng đồng và nền văn hóa. Một dân tộc cũng như một con người, nếu yêu mến và tin vào chân lý, điều thiện và vẻ đẹp, dù chưa tin vào Đức Kitô, cuối cùng cũng sẽ được dẫn đến với Đức Kitô. Đó là điều đã xảy ra với nền văn minh ngoại giáo thời xưa. Ngược lại, một dân tộc chế giễu và công kích những khái niệm tưởng như ngây thơ về chân lý khách quan, luân lý khách quan và vẻ đẹp đích thực sẽ đánh mất ngay cả những cây đã mọc lên từ quá khứ của mình.

Những người được gọi là chuyên gia trong nền văn hóa ngày nay không còn tin vào chân lý khách quan, điều thiện khách quan hay vẻ đẹp khách quan nữa. Đó là một trong những lý do chính khiến ngày nay ở châu Âu, cứ một người đến với đức tin thì có mười người rời bỏ đức tin. Ở Mỹ, tỷ lệ ấy là sáu người rời bỏ đức tin cho mỗi một người gia nhập. Tin tốt là với tốc độ này, chúng ta sẽ mất gần gấp đôi thời gian để suy tàn so với châu Âu.

Nhưng dụ ngôn của Chúa Giêsu áp dụng cho từng cá nhân hơn cho các nền văn hóa; và điều đó không chỉ quan trọng hơn mà còn quan trọng vô hạn, bởi vì mỗi cá nhân là bất tử, còn các nền văn hóa và nền văn minh thì không; mỗi cá nhân đều có giá trị vô hạn và vĩnh cửu, trong khi các nền văn hóa và nền văn minh thì không.

Như C.S. Lewis nhắc nhở chúng ta:

“Người buồn tẻ và kém thú vị nhất mà bạn trò chuyện hôm nay có thể một ngày nào đó trở thành một tạo vật mà nếu bạn nhìn thấy ngay bây giờ, bạn sẽ bị cám dỗ để tôn thờ; hoặc ngược lại, trở thành một nỗi kinh hoàng và sự băng hoại mà hiện nay bạn chỉ gặp trong những cơn ác mộng.

Suốt cả ngày, ở một mức độ nào đó, chúng ta đang giúp nhau tiến về một trong hai đích đến ấy.

Không có người nào là tầm thường cả. Bạn chưa bao giờ nói chuyện với một người chỉ đơn thuần là người phàm.

Các quốc gia, nền văn hóa, nghệ thuật, các nền văn minh—tất cả những điều ấy đều phải chết, và tuổi thọ của chúng so với chúng ta chẳng khác nào tuổi thọ của một con muỗi.

Nhưng chính những con người bất tử là những người chúng ta đùa giỡn cùng, làm việc cùng, kết hôn cùng, phớt lờ hay lợi dụng—những sự kinh hoàng bất tử hoặc những vinh quang vĩnh cửu.

Chỉ sau chính Bí Tích Thánh Thể, người thân cận của bạn là đối tượng thánh thiện nhất xuất hiện trước các giác quan của bạn… bởi vì nơi họ cũng vậy, Đức Kitô vere latitat (thật sự ẩn mình)—Đấng tôn vinh và được tôn vinh, chính Vinh Quang, đang thật sự hiện diện cách kín ẩn.” — Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)