Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.
Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. (Rôma 5;12-15)
Đoạn thư ngắn gọn nhưng rất súc tích này của thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma nêu lên ba điểm chính, và mỗi điểm đều giải thích một mối liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả. Đó cũng là cách chúng ta giải thích mọi sự: bằng nguyên nhân của chúng. Chúng ta giải thích sự ra đời của một em bé bằng sự kết hợp vợ chồng; giải thích bệnh béo phì bằng việc ăn quá nhiều; giải thích sự phát triển của cơ bắp bằng việc tập luyện; giải thích những chiếc lá lay động bằng cơn gió; giải thích nụ cười bằng niềm vui. Hậu quả luôn có nguyên nhân của nó.
Điểm thứ nhất mà thánh Phaolô giải thích là mối liên hệ giữa tội của Ađam và tội của chúng ta. Chúng ta có bị trừng phạt vì tội mà Ađam đã phạm không? Dĩ nhiên là không. Điều đó sẽ không công bằng. Thiên Chúa vừa công minh vừa giàu lòng thương xót.
Ađam là nguyên nhân của tội nguyên tổ nơi chúng ta, chứ không phải của những tội riêng mà chúng ta phạm. Tội nguyên tổ không phải là một hành vi, nhưng là một tình trạng, một điều kiện sống. Nó không phải là tội đầu tiên mà Ađam phạm trong Vườn Địa Đàng, nhưng là hậu quả của tội ấy, là lý do khiến chúng ta sinh ra với khuynh hướng ích kỷ và u mê.
Bởi vì từ khi sinh ra, chúng ta không có sự sống thần linh của Thiên Chúa trong linh hồn mình. Chúng ta nhận bản tính nhân loại từ cha mẹ, mà chính họ cũng là những con người sa ngã và tội lỗi. Vì thế, chúng ta cần được sinh ra một lần nữa, hay được “tái sinh”, như Chúa Giêsu đã nói, “bởi nước và Thánh Thần”, nhờ nước Bí tích Rửa Tội và hồng ân đức tin đến từ Chúa Thánh Thần.
Ađam đã đánh mất sự sống thần linh ấy trong linh hồn mình vì tội lỗi. Ông đã tự tách mình khỏi Thiên Chúa. Ông đã đánh mất ân huệ ấy, và để lấy lại, chúng ta cần đón nhận Đấng duy nhất có thể ban lại cho chúng ta, Đấng có thể cứu độ chúng ta, là Chúa Giêsu, mà chính tên Người có nghĩa là “Đấng Cứu Độ”.
Bởi vì Ađam đã tuyên bố đoạn tuyệt với Thiên Chúa, nên tất cả chúng ta sinh ra trong tình trạng bị đoạn tuyệt ấy. Chúng ta sinh ra với một khuynh hướng nghiêng chiều về tội lỗi, như những người nghiện tội, mang trong mình một thứ “ích kỷ nguyên thủy”, với những thôi thúc luôn nói rằng: “Tôi muốn điều tôi muốn, ngay khi tôi muốn, bất kể hậu quả thế nào.”
Tại sao chúng ta lại như vậy? Cũng giống như đứa trẻ sinh ra từ một người mẹ nghiện ma túy có thể mang sẵn sự lệ thuộc vào ma túy. Chúng ta nhận lãnh toàn bộ bản tính nhân loại từ cha mẹ mình, cả điều tốt lẫn điều xấu, trong linh hồn và tính cách cũng như trong thân xác. Hai chiều kích ấy luôn gắn liền với nhau.
Không phải lỗi của đứa trẻ khi nó được sinh ra trong tình trạng đó, nhưng đó vẫn là tình trạng nó mang lấy từ khi chào đời. Không ai bị kết án chỉ vì tội nguyên tổ do Ađam truyền lại cho nhân loại. Con người chỉ bị hư mất vì những tội riêng của mình, và chỉ khi họ khước từ việc ăn năn sám hối.
Ađam đã khởi đầu cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa, nhưng chúng ta tiếp tục duy trì nó, và tự sức mình chúng ta không thể chấm dứt nó. Chúng ta có ý chí tự do, nhưng không có tự do khỏi tội lỗi. Chúng ta là những kẻ nghiện. Chúng ta cần được trợ giúp.
Ađam đã rút phích cắm khỏi nguồn sự sống của Thiên Chúa, nhưng chúng ta không thể tự mình cắm nó trở lại, cũng như không thể tự gắn cánh tay vào cơ thể nếu đã chặt đứt nó. Chúng ta đã tự do chọn đánh mất tự do của mình; đã bán mình làm nô lệ, và chỉ có ân sủng Thiên Chúa mới có thể chuộc chúng ta trở lại sự tự do ấy.
Cái giá phải trả rất lớn, và Đức Kitô đã trả giá ấy trên thập giá. Nói theo một hình ảnh đơn sơ, Chúa Giêsu đã trả giá chuộc để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của ma quỷ. Người đã trao mạng sống mình để cứu lấy mạng sống chúng ta.
Điểm thứ hai mà thánh Phaolô trình bày là mối liên hệ giữa tội lỗi và sự chết.
Sự chết là hậu quả tất yếu, tự nhiên và không thể tránh khỏi của tội lỗi, cũng như việc nhảy xuống từ một vách đá cao tất yếu dẫn đến cái chết; cũng như sự cô đơn là hậu quả của việc phá vỡ một cuộc hôn nhân hay tình bạn; hay như bệnh béo phì là hậu quả của việc ăn quá nhiều.
Không phải Thiên Chúa nổi giận rồi trừng phạt chúng ta như cha mẹ phạt con cái. Chính tội lỗi là hình phạt của nó, bởi vì tội lỗi là sự tách lìa khỏi Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi điều thiện hảo và niềm vui.
Một cách khác để hiểu tư tưởng của thánh Phaolô là nhận ra rằng linh hồn và thân xác không phải là hai thực tại tách biệt, như thiên thần và thú vật, nhưng là hai chiều kích của cùng một con người. Giống như chữ viết và ý nghĩa của một cuốn sách, hay như những nốt nhạc vật chất và vẻ đẹp tinh thần của một bản giao hưởng.
Bạn không thể thay đổi một chiều kích mà không ảnh hưởng đến chiều kích kia. Tội lỗi đã làm tổn thương linh hồn, và vì thế cũng ảnh hưởng đến thân xác. Khi linh hồn đoạn tuyệt với Thiên Chúa, nó kéo theo cả thân xác. Mà Thiên Chúa lại là nguồn mạch của mọi sự sống, cả thể lý lẫn tâm linh.
Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng sự chết không phải là hình phạt pháp lý được áp đặt từ bên ngoài, nhưng là hậu quả tự nhiên của tội lỗi. Ngài chỉ ra rằng ngay cả trước khi Lề Luật và Mười Điều Răn được ban, sự chết đã thống trị toàn thể nhân loại.
Lề Luật chỉ làm sáng tỏ và xác định tội lỗi; nó không thay đổi thực trạng ấy. Lề Luật giống như tia X-quang chứ không phải cuộc phẫu thuật. Nó không thể cứu chữa, không thể biến đổi hay chữa lành chúng ta; nó chỉ có thể cho thấy căn bệnh vốn đã tồn tại.
Điểm cuối cùng của thánh Phaolô là: cũng như tội lỗi là nguyên nhân dẫn đến sự chết, Đức Kitô là nguyên nhân dẫn đến sự sống.
Tuy nhiên, có một khác biệt rất lớn. Cả hai đều là những mối tương quan giữa nguyên nhân và hậu quả; cả hai đều lan truyền từ một người đến mọi người, giống như một sự lây nhiễm xấu và một sự lây nhiễm tốt. Nhưng phương thuốc khác hẳn căn bệnh.
Sự chết là tiền công mà tội lỗi trả cho con người; còn sự sống đời đời là hồng ân Thiên Chúa ban trong Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta. Sự sống ấy không phải là tiền công Thiên Chúa trả vì công trạng của chúng ta, nhưng là quà tặng nhưng không của ân sủng. Không ai xứng đáng được vào thiên đàng. Thiên đàng hoàn toàn là một hồng ân nhưng không.
Một khác biệt nữa là ơn cứu độ vượt xa tội lỗi về sức mạnh và quyền năng. Ân sủng của Thiên Chúa như đại dương bao la, còn tội lỗi của chúng ta chỉ như một hạt bụi nhỏ bé. Vì thế, thánh Phaolô nói rằng ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ân sủng còn tuôn đổ dồi dào hơn nữa.
Tội lỗi không vô hạn, nhưng ân sủng Thiên Chúa thì vô biên. Không có tội nào mà Thiên Chúa không sẵn sàng tha thứ. Tội duy nhất Người không thể tha thứ là việc chúng ta từ chối sám hối, từ chối thú nhận tội lỗi và từ chối xin Người tha thứ.
Một món quà phải được trao ban cách tự do và được đón nhận cách tự do. Hồng ân sự sống đời đời của Thiên Chúa luôn luôn được trao ban cách nhưng không. Điều chúng ta cần làm chỉ là tự do đón nhận: khiêm tốn tin tưởng, chân thành tuyên xưng và thực lòng sám hối. Đó chính là sự kỳ diệu của Tin Mừng.
Thánh Phanxicô Assisi đã từng nói với một tu sĩ đang quá lo lắng và quá khắt khe với bản thân: “Theo anh nghĩ thì ai sẵn sàng hơn: Thiên Chúa trong việc ban ân sủng cho anh, hay anh trong việc đón nhận ân sủng ấy?” Câu trả lời thật rõ ràng: Thiên Chúa luôn sẵn sàng ban ơn hơn chúng ta sẵn sàng đón nhận.-- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)


0 Nhận xét