Chỉ Đấng Cứu Thế này có thể ban Thiên Chúa cho chúng ta -- Chúa nhật thứ III Mùa Vọng, năm B

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (Gioan 1:6-8;19-28)

Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai?” Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào ? Ông có phải là ông Ê-li-a không?” Ông nói : “Không phải.” - “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?” Ông đáp: “Không.” Họ liền nói với ông: “Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến ? Ông nói gì về chính ông?” Ông nói: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. Họ hỏi ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ ?” Ông Gio-an trả lời: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.

-----

Hầu hết người Do Thái vào thời Chúa Giêsu không chấp nhận việc Chúa Giêsu tuyên bố mình là Đấng Mêsia vì hai lý do. Đầu tiên và quan trọng nhất, đó là lời khẳng định của Ngài về chính mình. Ngài tự khẳng định mình không chỉ là một nhà tiên tri, một nhà hiền triết hay một vị thánh mà còn là Con Thiên Chúa. Nếu điều đó không đúng, thì đó là tuyên bố báng bổ nhất một người có thể đưa ra.

Thứ hai, họ nghĩ rằng Đấng Mêsia sẽ mang đến cho dân Israel, lúc này đang ở dưới chế độ độc tài chuyên chế của La Mã; đế quốc La Mã đã cướp đi quyền lực, sự thịnh vượng, giàu có và tự do mà dân tộc này đã không được hưởng kể từ thời Đa-vít và Sa-lô-môn. Nhưng Chúa Giêsu là người phi chính trị. Ngài không làm cho người nghèo trở nên giàu có hơn. Ngài không giải thoát các tù nhân Do Thái khỏi nhà tù La Mã. Ngài đã không giải phóng Israel khỏi chế độ thuế áp bức và độc tài của La Mã. Ngài đã không trao cho Israel quyền tự do chính trị. Đối với nhiều người Do Thái vào thời Chúa Giêsu, điều đó bác bỏ lời tuyên bố Ngài là Đấng Mêsia. Nó như thể gọi mình là đấng cứu thế và vị cứu tinh thế mà khi bước vào Auschwitz lại không phá hủy các lò ga thiêu người.

Lời tiên tri cũng nói về Đấng Mêsia là người chữa lành người mù. Và Chúa Giêsu đã chữa lành một số người mù, nhưng đó chỉ là một số ít thôi. Ngài để lại nhiều người nữa không được chữa lành, bị mù, bịnh phung, què quặt và mọi bệnh tật khác. Ngài đã chữa lành sự mù quáng của cả thế giới về Thiên Chúa, nhưng đó không phải là điều mà hầu hết người Do Thái đang tìm kiếm. Họ nghĩ rằng họ đã có được điều đó rồi và họ đang tìm kiếm sự khôn ngoan và thành công của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Gioan 18:36).

Tại sao Chúa Giêsu đến? Có phải nó để giải quyết các vấn đề y tế của chúng ta? Có phải nó để giải quyết các vấn đề kinh tế của chúng ta? Có phải nó để giải quyết các vấn đề chính trị của chúng ta? Nếu vậy thì Chúa Giêsu là đấng cứu thế giả mạo và hoàn toàn thất bại. Chúng ta vẫn bị bệnh và chết. Chúng ta vẫn còn nghèo đói. Chúng ta vẫn có nền chính trị đầy tham nhũng, chia rẽ và hoàn toàn không hoàn hảo ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chúa Giêsu đã ban cho thế giới điều gì mà trước đây nó không có?

Danh “Chúa Giêsu” có nghĩa là “Đấng Cứu Thế”; Chúa Giêsu đã cứu chúng ta khỏi điều gì? Lời tiên tri của Isaia nói rằng Đấng Mêsia sẽ cứu chúng ta khỏi sự đui mù, tù đày, nghèo đói và áp bức. Chúa Giêsu đã không làm điều đó. Vì vậy, Chúa Giêsu không phải là Đấng Mêsia. Đúng không?

Trật lất rồi. Chúa Giêsu đã làm điều đó. Ngài đã cứu chúng ta khỏi kẻ thù, nhưng kẻ thù của chúng ta không phải là người La Mã, hay thậm chí là Đức Quốc xã. Kẻ thù của chúng ta là tội lỗi của chính mình. Chúa Giêsu đã cứu chúng ta khỏi cảnh nghèo khó nhất, nghèo nàn về tâm linh.

Mẹ Têrêsa hiểu điều đó khi Mẹ nói rằng nước Mỹ không phải là một nước giàu mà là một nước nghèo, một nước nghèo khủng khiếp. Bất kỳ quốc gia nào mà cha mẹ giết chết một phần ba số con của họ trước khi chúng được sinh ra đều là một quốc gia nghèo khủng khiếp. Nghèo về mặt tâm linh là nghèo túng nhất.

Chúa Giêsu cũng đã cứu tất cả chúng ta khỏi tình trạng mù quáng tồi tệ nhất, mù quáng tâm linh, mù quáng khiến chúng ta nghĩ rằng mình là chúa của chính mình, là người đặt ra những giá trị, bản sắc và vận mệnh của chính mình, sự mù quáng khiến chúng ta tôn thờ các thần tượng, đặc biệt là những thần tượng nổi tiếng nhất. thần tượng của tất cả mọi người, của chính chúng ta và ý chí của chúng ta. Ngài chữa lành một số người mù như là dấu hiệu hay biểu tượng của sự chữa lành sâu xa hơn.

Chúa Giêsu cũng cứu chúng ta khỏi sự áp bức tồi tệ nhất từ những kẻ thù tồi tệ nhất của chúng ta, đó là sự áp bức không phải bởi Xê-da hay thậm chí Hitler mà bởi Satan. Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta sự tự do thiết yếu nhất, đó không phải là tự do chính trị mà là tự do của tâm linh, của linh hồn, tự do khỏi tội lỗi, sự chết và địa ngục, không phải tự do khỏi đảng Dân chủ và chủ nghĩa xã hội hay tự do khỏi đảng Cộng hòa và chủ nghĩa tư bản.

Chúa Giêsu cũng cứu chúng ta khỏi những căn bệnh tồi tệ nhất, những căn bệnh tàn tật nhất, đó là sự nghiện ngập những tội lỗi chúng ta hay phạm, bất kể chúng là gì, làm tê liệt tâm hồn chúng ta và làm cho tâm hồn chúng ta bệnh tật và không chỉ phải chịu cái chết thể xác mà cả cái chết đời đời.

Vậy Chúa Giêsu đã ban cho thế giới điều gì mà trước đây nó không có? Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đưa Thiên Chúa đến cho chúng ta. Bởi vì Chúa Giêsu đã ban chính Ngài cho chúng ta và Ngài là Thiên Chúa. Chúa Giêsu đặt Thiên Chúa vào tay chúng ta. “Con Người sẽ bị nộp cho kẻ có tội” (Mác-cô 14:41) – mô tả cả việc Chúa bị đóng đinh và việc chúng ta rước lễ.

Ngược lại với Thiên Chúa không phải là người La Mã hay Đức Quốc xã, hay Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, hay áp bức chính trị hay nghèo đói hay bệnh tật hay mù lòa hay tù đày hay nô lệ. Ngược lại với Thiên Chúa là tội lỗi, đó là sự áp bức về mặt tâm linh, sự nghèo nàn về mặt tâm linh, bệnh tật của tâm linh, sự mù quáng của tâm linh, sự tù đày về mặt tâm linh và tình trạng nô lệ của tâm linh. Chúa Giêsu đã đi vào trọng tâm của vấn đề. Ngài được gọi là “Chúa Giêsu” hay “Đấng Cứu Thế” vì Ngài đã cứu chúng ta khỏi tội lỗi. – Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle B)

Hãy sửa lối cho thẳng để Chúa đi: Chúa nhật thứ II Mùa Vọng, Năm B

Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô (1,1-8)

Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa: Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Đúng theo lời đó, ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. 7 Ông rao giảng rằng : “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. 8 Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.”

----- 

Mác-cô chỉ đơn giản nói Gioan “xuất hiện trong hoang địa,” và không nói gì về lai lịch của Gioan. Nhưng Luca cho chúng ta biết cha của Gioan là Da-ca-ri-a, thuộc dòng dõi tư tế và cho chúng ta biết rằng Gioan đã ở trong sa mạc trước khi ông bắt đầu sứ vụ công khai của mình (Luca 1:80). Tôi nghĩ câu nói này của Luca có nghĩa là Gioan đã được cha mẹ - hoặc các thành viên khác trong gia đình gửi đi sau khi cha mẹ ông đã qua đời - để được những người sùng đạo của phái Essenes (có ba nhóm chính trong Do thái giáo thời Chúa Giêsu: Sa-đốc, Pharisêu và nhóm Essenes) nuôi dưỡng trong “đan viện” của họ bên bờ Biển Chết, trong “nơi sa mạc”. Chúng ta biết từ Josephus (lịch sử gia) rằng cộng đoàn Essene đã chấp nhận các bé trai Do Thái giáo, những người mà họ sẽ đào tạo theo niềm tin và lối sống của họ, và đây là nguồn “ơn gọi” cho họ.

Thánh Gioan rao giảng “phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”. Người Qumran (của nhóm Essene) làm phép rửa hàng ngày để lãnh nhận ơn tha thứ. Còn Gioan dường như cử hành phép rửa một lần như một dấu hiệu của một sự thay đổi dứt khoát trong tâm tính và lối sống.

“Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông”: điều này đòi hỏi Gioan giảng dạy ở phía tây của bờ sông Giođan, trong phạm vi đoạn sông cách dòng nước chảy vào Biển Chết khoảng mười dặm hoặc ít hơn. Hơn mười dặm về phía bắc của Biển Chết là lãnh thổ Sa-ma-ri, và người Giu-đa (sống vùng Giuđêa) và người Giê-ru-sa-lem sẽ không vào làng của người Sa-ma-ri vì bất kỳ lý do gì. Nhưng đan viện Qumran cách cửa sông Giođan vài dặm về phía nam và phía tây dọc theo bờ biển.

“Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan.” Đây là một hành động đòi hỏi sự khiêm nhường của dân Do Thái vì nó có nghĩa là họ thú nhận họ không hoàn toàn tinh tuyền để tham dự nghi lễ và cần được tắm rửa toàn thân. Thừa nhận tội lỗi một cách công khai là một điều nhục nhã, vì thông thường người ta chỉ thú nhận với vị tư tế khi dâng lễ vật. Việc Gioan làm phép rửa cho mọi người khi họ xưng thú tội lỗi mình là hành vi của một vị tư tế, vì theo luật Mô-sê, người ô uế phải đến gặp thầy tư tế, thừa nhận tội lỗi hoặc sự ô uế của mình, và tuân theo việc nghi thức rửa sạch hoặc các nghi lễ khác mà thầy tư tế sẽ quy định. Bạn cũng hãy để ý những người kiêu căng hơn trong dân Do Thái: người Pha-ri-sêu và người Sa-đốc, Kinh thánh đã không nói họ là những người đến lãnh nhận phép rửa của Gioan.

“Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng”. Áo lông lạc đà, dây thắt lưng là những dấu hiệu của ngôn sứ Ê-li-a (2 Vua 1:8). Gioan dường như cố tình chọn hình ảnh và tính cách của vị tiên tri tổ phụ danh tiếng lẫy lừng cho mình. Việc ăn châu chấu và mật ong rừng có vẻ nói Gioan ăn loại thức ăn không được chuẩn bị trước mà Gioan có thể tìm thấy trong môi trường. Josephus cho biết những người bị đuổi khỏi cộng đoàn Essene bị buộc phải sống cách này, bởi vì lời thề của họ khi gia nhập cộng đoàn cấm họ không bao giờ ăn thức ăn được chế biến ở nơi khác. Lỗ hổng của luật đó dường như nói có thể ăn thực phẩm chưa được chuẩn bị trước hoặc các thức ăn tìm thấy trong môi trường. Josephus vì thế, đề cập đến có những người tồn tại nhờ cỏ và vỏ cây. Đối với tôi, đây là dấu hiệu cho thấy Gioan đã bị đuổi khỏi cộng đoàn Qumran.

Điều này có thể vì nhiều lý do, nhưng điều khiến tôi ấn tượng là việc Gioan sẵn sàng rao giảng cho công chúng, ngay cả cho dân ngoại, trong khi điều này bị nghiêm cấm trong nội quy cộng đoàn. Có lẽ Gioan đã không đồng ý với việc cộng đoàn từ chối rao giảng sứ điệp chuẩn bị cho Đấng Mêsia cho toàn thể dân tộc và các quốc gia, như ngôn sứ Isaia đã nói trước.

Giống như người Essenes, Gioan trông đợi một Đấng Messia: “Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi”. Người trong nhóm Essene mong đợi hai Đấng Mêsia, một vị thượng tế và một vị vua. Gioan chỉ nói về một “Đấng quyền thế hơn”. Có lẽ Gioan chấp nhận “minority report / báo cáo thiểu số” của người Essene rằng Men-ki-xê-đê sẽ trở lại và người sẽ vừa là thượng tế vừa là vua. Hoặc, có lẽ Gioan nghĩ mình là mêsia tư tế, chuẩn bị cho “Đấng quyền năng hơn”, Con vua Đa-vít sẽ đến mà Gioan đang làm việc chuẩn bị.

“Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần.” Người của nhóm Qumran nghĩ rằng họ đã có Chúa Thánh Thần và Chúa Thánh Thần đến với họ qua nghi thức rửa sạch hàng ngày của họ. Gioan có vẻ không đồng ý. Có lẽ Gioan không đồng ý với cộng đoàn và đi đến kết luận rằng nhóm Qumran không có Chúa Thánh Thần, nhưng đúng hơn là Chúa Thánh Thần sẽ đến qua sứ vụ của Đấng Mêsia. Dù sao đi nữa, đó là những gì Gioan rao giảng ở đây: một đấng thiên sai sắp đến và ngài có quyền ban Chúa Thánh Thần.

Chúng ta những người nghe Tin Mừng này, chúng ta biết “Đấng quyền năng hơn” đó là ai và chúng ta đã nhận được Chúa Thánh Thần từ Người qua các bí tích? Vậy trong Mùa Vọng này, chúng ta hãy cam kết ăn năn sám hối, “sống đạo đức và thánh thiện” mỗi ngày (2 Phêrô 3:11) để có thể xuất hiện “tinh tuyền không chi đáng trách và sống bình an” (2 Phêrô 3:14). Thánh Gioan Tẩy giả, dù đã được tẩy sạch tội lỗi từ trong bụng mẹ, vẫn thực hành khổ hạnh để bảo vệ mình trên con đường nên thánh.

Nếu Thánh Gioan đã mặc áo lông lạc đà, ăn châu chấu và mật ong, thì chúng ta có thể thực hiện một số hy sinh cá nhân, thậm chí một số việc hãm mình ép xác, trong Mùa Vọng này không? Đúng là Mùa Vọng không phải là Mùa Chay, nhưng vẫn là mùa sám hối, và ai trong chúng ta lại không cần thanh tẩy và sám hối? Chúng ta đừng giống như những người Pha-ri-sêu và Sa-đốc quá kiêu căng để thừa nhận nhu cầu sám hối, thay đổi đời sống của mình và chú ý đến lời rao giảng của Gioan!

-- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year B

Chúa Nhật thứ XXXIII Mùa Thường Niên, Năm A

Được giao ít mà anh đã trung thành, hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu (25, 14-30)

Quả thế, cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ.  Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức,  người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác.  Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác.  Còn người đã lãnh một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ.  Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ.  Người đã lãnh năm yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói: ‘Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây.’  Ông chủ nói với người ấy: ‘Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!’  Người đã lãnh hai yến cũng tiến lại gần và nói: ‘Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi đã gây lời được hai yến khác đây.’  Ông chủ nói với người ấy: ‘Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!’  Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: ‘Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi.  Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!’  Ông chủ đáp: ‘Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi,  thì đáng lý anh phải gửi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ!  Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến.  Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa ; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi.  Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng.’

--------

Tin Mừng cho chúng ta một phần trả lời cần thiết: hãy tận dụng tối đa cuộc sống của bạn bằng cách sử dụng tài năng của bạn cho Chúa và cho người khác. Từ “talent / tài năng” trong tiếng Anh vừa có nghĩa là đồng tiền vừa là sức lực hoặc khả năng. Mỗi người chúng ta là một cá thể độc nhất: Chúa ban cho mỗi người chúng ta ít nhất một khả năng trong một lĩnh vực nào đó của cuộc sống và ít nhất một khuyết tật trong một lĩnh vực khác. Người tài năng nhất, trong bất kỳ lĩnh vực nào, luôn có điều gì đó mà họ bất lực. Chẳng hạn như một số triết gia vĩ đại không thể pha được một tách trà. Và người bất lực nhất trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống luôn có sức mạnh và tài năng ở một lĩnh vực nào đó, thường là bị ẩn giấu hoặc chưa phát triển. Cha mẹ nào đã từng sinh con hoặc nhận nuôi một đứa trẻ khuyết tật đều biết điều đó. Mọi khuyết tật đều đi kèm với một số khả năng và mọi khả năng đều đi kèm với một số khuyết tật.

Nếu bạn đang nghĩ, “Điều đó không áp dụng cho tôi; tôi không giỏi về điều gì cả,” bạn gần như chắc chắn đã sai. Và ngay cả khi bạn không sai về điều đó, ngay cả khi bạn không có khả năng và không có gì ngoài khuyết tật, thì khi bạn dâng khuyết tật và đau khổ đó lên Chúa, nó sẽ trở nên mạnh mẽ và quý giá, như bất kỳ nỗi đau khổ nào khác được dâng lên trong niềm tin tưởng, hy vọng và tình yêu.

Tất cả chúng ta đều có khả năng và khuyết tật, có tài năng và không có tài năng. Tất cả chúng ta đều cần biết mình là ai từ những người mà chúng ta gọi là người khuyết tật: tất cả chúng ta đều là người khuyết tật, theo những cách khác nhau. Điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta đều là tội nhân.

Điểm rõ ràng trong dụ ngôn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay là Thiên Chúa có những kỳ vọng cho chúng ta và đòi hỏi chúng ta sử dụng tài năng của mình, không giấu nó đi, không chôn vùi chúng mà tích cực sử dụng chúng. Và điều đó không chỉ cho lợi ích của chúng ta, vì lòng tự trọng, mặc dù đó là một phần quan trọng, và cũng không chỉ vì những người khác có thể được hưởng lợi nhờ tài năng của chúng ta, mặc dù đó cũng là một phần quan trọng, mà còn vì Chúa vì Chúa thiết kế và tạo dựng nên chúng ta cho công việc mà chúng ta có thể làm. Ngài đã tạo ra gia đình nhân loại rộng lớn này để họ có thể sống phụ thuộc và hợp tác một cách hạnh phúc và hiệu quả. (“Hợp tác” có nghĩa đen là “cùng nhau làm việc”). Có sự phụ thuộc lẫn nhau không lành mạnh, nhưng cũng có sự phụ thuộc lành mạnh và hạnh phúc.

Ví dụ rõ ràng nhất về sự phụ thuộc lành mạnh đó là việc Thiên Chúa đã chia chúng ta thành nam và nữ (và điều đó cũng liên quan đến chủ đề của hai bài đọc Cựu Ước hôm nay). Có nhiều phụ nữ giỏi hơn nam giới rất nhiều, và có nhiều đàn ông giỏi hơn phụ nữ rất nhiều, và đó là kế hoạch của Chúa: chúng ta hợp tác, không cạnh tranh. Cần có hai người để nhảy tango, cần hai người để sinh đẻ con cái hoặc tạo nên một gia đình hạnh phúc. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến nói rằng “phụ nữ cần đàn ông như con cá cần một chiếc xe đạp”, nhưng điều đó đơn giản là không đúng. Đàn ông cần phụ nữ cũng như phụ nữ cần đàn ông. Sự sống sẽ kết thúc nếu một trong hai giới tính không còn tồn tại – cả đời sống sinh học và đời sống văn hóa.

Lý do cơ bản nhất để phát triển những tài năng đặc biệt của chúng ta là khi chúng ta rời khỏi đời này Chúa sẽ phán xét chúng ta về cách chúng ta đã sống. Ba câu hỏi quan trọng nhất mà Chúa sẽ hỏi chúng ta khi chúng ta chết và chúng ta gặp Ngài là những câu này. Trước hết, Chúa của con là ai? Con tin vào ai? Con đặt tin tưởng vào ai? Thứ hai, con là ai? Con là gì? Sự gì ở trong trái tim con? Con là người có trái tim yêu thương hay người trái tim đầy sự thù hằn? Khiêm nhường hay kiêu căng? Con là một tội nhân ăn năn hay một tội nhân không ăn năn? (Nhân thể, chỉ là hai loại người đó thôi, trừ khi bạn là Đức Trinh Nữ Maria.) Thứ ba, con đã làm gì? Con đã làm gì với những tài năng mà Ta đã trao cho con? Câu hỏi đầu tiên là về đức tin, câu hỏi thứ hai là về tính cách và câu hỏi thứ ba là về việc làm.

Khi Chúa hỏi bạn đã làm gì, Ngài sẽ muốn cả hai “Con đã làm được gì cho người khác?” và “Con đã làm gì cho Ta?”

Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Chúa Nhật thứ XXXII Mùa Thường Niên, năm A: Các trinh nữ khôn ngoan và khờ dại

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu (25:1-13)

Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này : “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. Nửa đêm, có tiếng la lên : ‘Chú rể kia rồi, ra đón đi!’ Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. Các cô dại nói với các cô khôn rằng : ‘Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em sắp tắt rồi!’ Các cô khôn đáp : ‘Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.’ Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: ‘Thưa Ngài, thưa Ngài ! mở cửa cho chúng tôi với!’ Nhưng Người đáp : ‘Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!’ Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.”

-----------

Câu nói nổi bật nhất trong bài Tin Mừng hôm nay là về các trinh nữ khờ dại không chuẩn bị đèn và đến dự tiệc cưới quá muộn. Câu đó là “Rồi người ta đóng cửa lại”.

Cánh cửa đó là cái chết. Cái chết khóa chặt cánh cửa của hết mọi cơ hội. Khi còn sống, nếu chúng ta không chuẩn bị cho điều gì đó, chúng ta luôn có thể có cơ hội thứ hai. Nhưng không ai có được cơ hội thứ hai sau khi chết. Chết đâu, người ta nằm ở đó. Nếu bạn chết trong tiệc cưới, bạn sẽ ở trong đó mãi mãi; nếu bạn chết bên ngoài tiệc cưới, bạn sẽ ở bên ngoài mãi mãi.

Con tàu Nô-e tượng trưng cho điều tương tự như tiệc cưới trong dụ ngôn hôm nay – cụ thể là sự cứu rỗi. Trong câu chuyện Nô-e cũng có câu chuyện về một cánh cửa giống như trong dụ ngôn hôm nay. Sau khi Nô-ê cùng gia đình ông và tất cả các loài động vật vào tàu, sách Sáng thế nói: “Rồi ĐỨC CHÚA đóng cửa lại sau khi ông vào [tàu]” (Sáng Thế 7:16). Như trong dụ ngôn của Chúa Giêsu: “Người ta đóng cửa lại”.

Những người khác khi thấy trận lụt đến chắc chắn đã hối hận vì đã cười nhạo Nô-e khi ông đóng tàu vì đã không tin và vâng lời Chúa; nhưng đã quá trễ rồi. Đến một lúc nào đó thì đã quá muộn. Cơ hội thứ hai không kéo dài mãi mãi. Cuộc sống trong thời gian không kéo dài mãi mãi. Đến một lúc nào đó cánh cửa đóng lại. Và bạn chết ở đâu, bạn nằm ở đó: bên trong hoặc bên ngoài.

Đó là quan điểm rất rõ ràng, rất thực tế, rất hợp lý mà Chúa Giêsu đang đưa ra trong dụ ngôn về các cô khôn ngoan và các cô khờ dại. Đó là về sự khôn ngoan thực tế. Sự khôn ngoan, đối với năm cô khôn ngoan, hệ tại ở việc làm theo lời Chúa Giêsu giảng dạy: “Hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày giờ” cửa sẽ đóng lại. Những người không có đức tin cho rằng tôn giáo là duy tâm và không thực tế; nhưng không gì có thể thực tế và thiết thực hơn lời khuyên đó.

Chúng ta có thể gọi khía cạnh khôn ngoan này là nỗi sợ hãi thánh thiện. Thánh vịnh nói về sự khôn ngoan của người ước muốn biết Chúa, khao khát Thiên Chúa. Thư thánh Phaolô nói về sự khôn ngoan của niềm hy vọng vào Chúa. Tin Mừng nói về lòng kính sợ Thiên Chúa. Kinh Thánh nói: “Kính sợ ĐỨC CHÚA là bước đầu của khôn ngoan” (Châm ngôn 9:10). Đây không phải là sợ hãi một bạo chúa hay sợ một chủ nô bởi vì Chúa không phải là một bạo chúa hay một chủ nô. Đó không phải là nỗi sợ của kẻ nô lệ mà là nỗi kính sợ của người con, sự tôn trọng, kính sợ và tin tưởng mà một đứa trẻ dành cho cha mẹ. Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Nỗi sợ hãi đó là sự khởi đầu của sự khôn ngoan, nhưng nó không phải là cùng đích. Cùng đích là tình yêu và niềm vui: niềm vui của tiệc cưới, lễ cưới thiêng liêng của chúng ta với Thiên Chúa. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp -- Bài đọc 1 của Chúa Nhật thứ XXXII Mùa Thường niên, năm A

Thánh Phaolô gọi Đức Kitô là “sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr. 1:24) và nói về Chúa Giêsu rằng Người là “Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta” (1 Cr. 1:30). Đức Kitô không chỉ có sự khôn ngoan; Ngài chính là sự khôn ngoan, mọi sự khôn ngoan, vĩnh viễn, trọn vẹn và hoàn hảo. Kinh Tin Kính tuyên xưng rằng Người “sinh bởi Ðức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Ðức Chúa Cha: nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người”. Ngôi hai của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự thật và sự khôn ngoan trong cõi đời đời, đã trở thành người phàm.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu không chỉ nói “Ta dạy lẽ thật” như tất cả những bậc thầy vĩ đại khác của con người, mà là “Ta Sự Thật” (Gioan 14:6). Từ “I AM / Ta là Đấng Hằng hữu” trong tiếng Híp-ri là danh thánh Thiên Chúa và chính Chúa đã mặc khải cho Môse trong bụi gai cháy, một danh thánh rất thánh thiêng đến nỗi tất cả người Do Thái vĩnh viễn bị cấm phát âm nó.

… Sách Khôn ngoan sau đó tiếp tục nói rằng: “Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng”. Chúng ta chỉ hiểu được sự khôn ngoan khi chúng ta yêu thích nó. Tình yêu có đôi mắt. Pascal nói: “Trái tim có lý lẽ mà lý trí không biết đến”. Tình yêu thì không mù quáng. Làm sao tình yêu có thể mù quáng? Thiên Chúa là Tình yêu; Chúa có mù không?

Lời đầu tiên của Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Tin Mừng Thánh Gioan là “Các anh tìm gì thế?” (Gioan 1:38). Nói cách khác, Chúa muốn nói: Anh em yêu thích điều gì? Nếu anh em yêu Đấng mà Tôi là, nếu anh em yêu mến sự khôn ngoan đích thực thì Tôi đảm bảo anh em sẽ tìm được nó. “Cứ tìm thì sẽ thấy... Ai tìm thì sẽ thấy” (Mt 7:7).

Anh em có thể tìm kiếm và không tìm thấy sự anh em tìm kiếm trên thế giới này, nhưng nếu anh em tìm kiếm Ta là ai, nếu anh em tìm kiếm sự khôn ngoan và sự thật cũng như nếu anh em tìm kiếm tình yêu và lòng tốt, anh em sẽ tìm thấy nó. Nếu anh em tìm kiếm tội lỗi và sự ích kỷ, anh em cũng sẽ tìm thấy điều đó. Nếu anh em yêu thích bóng tối, anh em sẽ tìm thấy bóng tối. Nếu anh em yêu thích ánh sáng, anh em sẽ tìm thấy ánh sáng. Đó cũng là điều Sách Khôn ngoan đang nói: “Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng”.

Giống như sách Khôn ngoan, Chúa Giêsu dạy sự khôn ngoan sâu sắc này. Nhưng không như người viết sách Khôn Ngoan, Chúa Giêsu chính là sự khôn ngoan sâu sắc này. Nếu bạn tìm kiếm Ngài, bạn chắc chắn sẽ tìm thấy Ngài. Chúa Giêsu đảm bảo với bạn điều đó. Những người theo thuyết bất khả tri trung thực, tìm kiếm Chúa sẽ được lên thiên đàng. Nếu bạn là người theo thuyết bất khả tri, nếu bạn nghi ngờ liệu Chúa này có thực sự tồn tại hay không, Chúa của trí tuệ và tình yêu hoàn hảo này, nhưng nếu bạn yêu con người của Ngài và nếu đó là lý do tại sao bạn muốn Ngài tồn tại, thì bạn sẽ tìm thấy Ngài, bởi vì trí óc yếu đuối và thiếu khôn ngoan của bạn sẽ được hướng dẫn bởi trái tim mạnh mẽ và khôn ngoan hơn của bạn. Tất cả chúng ta đều đi đến nơi mà tình yêu dẫn dắt chúng ta. Tình yêu thì giống như trọng lực.

… Tiếp theo, sách Khôn ngoan nói: “Ai khao khát Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết”. Đức Khôn Ngoan thì chủ động! Đức Khôn Ngoan không chỉ là một sự trừu tượng thụ động, không thay đổi, một lý tưởng. Đức Khôn Ngoan thì chủ động, luôn tìm kiếm bạn trước khi bạn tìm đến Đức Khôn Ngoan…

Pascal hiểu điểm đó. Ông tưởng tượng Chúa đang nói những lời này với ông khi ông vẫn đang tìm kiếm Thiên Chúa thật và chưa tìm thấy Ngài: “Hỡi con, hãy yên tâm: con sẽ không tìm kiếm Ta trừ khi Ta là người đi bước trước để tìm kiếm con”. Trong dụ ngôn của Chúa Giêsu, người chăn chiên đi tìm con chiên lạc trước khi con chiên biết mình bị lạc để đi tìm người chăn chiên.

Sách Khôn Ngoan sử dụng hình ảnh cụ thể đầy lôi cuốn này để chúng ta tìm kiếm Đức Khôn Ngoan: “Ai từ sáng sớm đã tìm Đức Khôn Ngoan, thì không phải nhọc nhằn vất vả. Họ sẽ thấy Đức Khôn Ngoan ngồi ngay trước cửa nhà.” Đức Khôn Ngoan luôn ở đó, và đoán trước sự xuất hiện của kẻ tìm kiếm mình bằng cách đặt bản thân trên con đường của người đang tìm mình.

Sách Khôn Ngoan… giống như một khu mỏ có nhiều kho báu ẩn giấu, nhiều thỏi vàng, bởi vì mỏ vàng đó được lấy cảm hứng từ một tâm trí quý giá như vàng: Tâm trí của Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan là Thiên Chúa. Bạn biết tên Ngài. Ngài đang chờ đợi bạn như mặt trời ở cổng bình minh khi bạn lên rước lễ. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Tình yêu không là cảm xúc mà là một lựa chọn để hành động vì yêu -- Chúa nhật thứ XXX Mùa Thường Niên, năm A

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.” (Mt 22:37-40)

Yêu thương là giới răn của Chúa. Nhưng tình yêu về cơ bản không phải là cảm xúc vì chúng ta không thể ra lệnh, không thể điều khiển cảm xúc. Nếu tôi nói, “Tôi cảm thấy buồn” và bạn nói, “Tôi ra lệnh cho bạn đừng cảm thấy buồn nữa”, bạn đang thật là buồn cười. Nếu tôi nói, “Tôi không cảm thấy bị thu hút bởi cô ấy”, và bạn nói, “Tôi ra lệnh cho bạn hãy để cô ấy thu hút bạn”, thì bạn thật là lố bịch. Chúa Giêsu không hề lố bịch. Cả bạn và tôi đều không thể thay đổi cảm xúc của mình chỉ bằng cách ra lệnh cho nó. Những gì chúng ta có thể quản trị là sự lựa chọn, là quyết định và sau đó là hành động sao cho phù hợp với quyết định đó.

... Vậy thì tình yêu là gì nếu nó không chỉ là cảm giác chủ quan? Tình yêu là một sự lựa chọn và một hành động. Thực ra, tình yêu có yếu tố chủ quan, nhưng đó không phải là cảm giác mà là sự tự do lựa chọn, và sự lựa chọn là thực hiện một hành động làm, một việc làm, để tình yêu trở thành việc làm của tình yêu, cũng như đức tin trở thành việc làm của đức tin.

...Cảm xúc thì tự nhiên, tốt lành, quan trọng và rất mạnh mẽ, nhưng chúng không phải là bản chất của tình yêu, và do đó chúng không quan trọng như chúng ta thường nghĩ. Cảm xúc và phương pháp là hai điều mà các thánh đều nói là ít quan trọng hơn chúng ta nghĩ trong đời sống thiêng liêng, đặc biệt là đời sống cầu nguyện.

“Thiên Chúa là tình yêu” và “Thiên Chúa là Cha chúng ta” cùng nói về một thứ. Việc chúng ta ngạc nhiên trước sự cùng nghĩa đó là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy chúng ta đang ở trong “a deep doo-doo” / tình trạng khó khăn sâu sắc, như một cựu tổng thống đã từng nói. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất của ma quỷ để phá hủy đức tin tôn giáo của xã hội chúng ta là cuộc tấn công vào tình phụ tử, bởi vì nếu bạn không thể yêu người cha trần thế mà bạn có thể nhìn thấy thì làm sao bạn có thể yêu Cha trên trời mà bạn không thể nhìn thấy được?

Nếu một người cha lạnh lùng và xa cách, hoặc ngược đãi con cái, coi mình là trọng tâm, hoặc nếu ông bỏ rơi gia đình, đó là điều mà con cái ông chắc chắn sẽ nghĩ đến khi nghe đến cụm từ “Chúa Cha”: Chúa lạnh lùng, Chúa xa cách, Chúa là kẻ ngược đãi, Chúa là người tự cho mình là trọng tâm, Chúa là kẻ bỏ rơi.

Lý trí của họ có thể bác bỏ ý tưởng đó, nhưng trái tim sẽ phải mất rất nhiều thời gian mới bắt kịp lý trí. Thánh Augustinô có mối quan hệ tồi tệ với cha mình đến nỗi ngài không thể gọi Thiên Chúa là “Cha” cho đến khi khá muộn trong cuộc đời.

Tôi sắp nói điều gì đó đáng sợ với các ông bố. Thưa các bố, tương lai của nền văn minh của chúng ta nằm trong tay các anh. Có lẽ tương lai của loài người trên trái đất này đang nằm trong tay các anh. Bằng cách yêu thương vợ con mình, các anh có thể làm được nhiều việc hơn bất kỳ người đã thay đổi và gây chấn động vĩ đại nào trên thế giới này. Các anh hữu hiệu hơn những người đã giải quyết các vấn đề về kinh tế, năng lượng hoặc hiện tượng nóng lên toàn cầu hoặc thậm chí là chiến tranh hoặc về phong trào chăm sóc sức khỏe.

Chúng ta đang thiếu linh mục. Nhưng sự thiếu hụt của người cha trong gia đình thì còn trầm trọng hơn.

Điều tương tự cũng đúng với các bà mẹ. Đó là công việc có ảnh hưởng nhất và quan trọng nhất trên thế giới.

Điều được đòi hỏi từ cha mẹ là gì? Tất nhiên là tình yêu. Yêu thương trong hành động, không chỉ trong mơ mộng. Có một bài hát nói, “tình yêu là tất cả những gì bạn cần”. Nhưng điều đó không đúng; bạn cũng cần hiểu tình yêu thực sự là gì và nó đòi hỏi như thế nào.

Được rồi, bạn biết rồi. Vậy bạn sẽ làm gì với điều bạn biết? Đó là quyết định của bạn. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Chúa Nhật thứ XXIII Mùa Thường niên, năm A: Nếu ngươi không nói để cảnh cáo đứa gian ác, thì máu nó, Ta sẽ đòi ngươi

Nếu ngươi không nói để cảnh cáo đứa gian ác, thì máu nó, Ta sẽ đòi ngươi.

Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en (33:7-9)

Đức Chúa phán như sau: “Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : ‘Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết’, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó ; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”

-----

“Sự thật, trọn vẹn sự thật, và không có gì ngoài sự thật.” Đó là những gì người ta hứa trước tòa án thế tục (Mỹ) khi tuyên thệ làm nhân chứng. Chúa không đòi hỏi ít hơn.

Chúa đòi hỏi nhiều hơn nơi các vị tiên tri và những thầy dạy của Ngài, những người có ơn gọi để nói sự thật, ơn gọi chính yếu của họ, đặc biệt là về sự thật của đức tin và luân lý, đến với cho những người không nghe hoặc không tuân theo lời dạy đó. Giacôbê 3:1 là câu nói đáng sợ nhất trong Kinh thánh dành cho các thầy dạy: “Thưa anh em, đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn”.

Tất nhiên, chúng ta cần thận trọng khi đánh giá sự thật nào, ở mức độ nào, nên được dạy trong hoàn cảnh nào và dạy cho ai. Chúng ta không dạy người khác bằng cách đến gặp người lạ và dùng Kinh Thánh đập vào đầu họ như thể phủi bụi một tấm thảm bẩn. Nhưng có những lúc chúng ta thấy cánh cửa mở, hoặc những cánh cửa hé mở, và chúng ta trốn tránh trách nhiệm khi không tận dụng những cơ hội đó để đưa ánh sáng qua những khe hở đó, dù phải trả giá, dù bất tiện và đôi khi đem lại xấu hổ cho chính mình. Cũng có những lúc chúng ta tìm thấy những cánh cửa đóng kín, khi ngay cả những lời chân thật cũng chỉ làm cánh cửa cứng ra thêm thôi. Trong những trường hợp đó, chúng ta không dùng lời nói, nhưng chúng ta sử dụng ba sức mạnh lớn hơn lời nói: tình yêu, lời cầu nguyện và đức tin, đức tin tràn đầy hy vọng và kiên nhẫn.

Khi Cain sát hại Aben và Chúa hỏi ông: “Aben, em con ở đâu?” Ca-in đáp: “Con là người giữ em con hay sao?” (Sáng thế 4:9). Câu trả lời của Chúa là: “Đúng vậy. Tất cả các con đều là anh em và tất cả các bạn đều phải chịu trách nhiệm về mọi việc làm và mọi lời nói của mình đến với người khác. Ta đã dựng nên các con phụ thuộc lẫn nhau đến mức các con chạm vào cuộc sống, tâm hồn và số phận của nhau. Hết thảy đều thuộc về một gia đình.”

Cain không phải là người đầu tiên phủ nhận sự thật này bằng cách đưa ra lời bào chữa. Cain đã học được điều đó từ cha mẹ mình. Khi Chúa hỏi Ađam, lúc miếng táo vẫn còn trên môi, “Ngươi ở đâu?” A-đam đáp: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.” Và Evà: “Con rắn đã lừa dối con” (Sáng Thế 3:9–13). Khi chúng ta bắt đầu đưa ra những lời bào chữa, thì đã đến lúc chúng ta phải bắt đầu làm  việc chúng ta bào chữa để khỏi làm, hoặc ngừng làm việc mà chúng ta đang tìm viện cớ làm.

Đúng vậy, chúng ta là người canh giữ anh em của mình. “Không ai là một hòn đảo.” Mỗi hành động và lời nói bác ái với bất kỳ ai đều tạo ra sự khác biệt tích cực cho mọi người, bất kể nhỏ chừng nào hay gián tiếp bao nhiêu. Và mọi từ chối giúp đỡ, từ chối làm việc bác ái đó, bằng lời nói hay hành động, đều gây tổn hại cho mọi người. Mỗi viên sỏi đều góp phần tạo nên một trận tuyết lở.

Trong Do Thái giáo của Cựu Ước, chỉ một số người là nhà tiên tri và chỉ một số người là ráp-bi – nghĩa là thầy dạy. Trong Giáo hội, mặc dù có trung tâm Huấn quyền, bao gồm các giám mục hiệp thông với giáo hoàng, nhưng cũng đúng là mọi Kitô hữu đã được rửa tội đều tham gia vào ơn gọi giảng dạy của vị tiên tri / ngôn sứ / prophet (vì từ prophet có nghĩa đen là “người tiên báo” hay “người phát ngôn cho Chúa”) và là nhà truyền giáo (bạn có nhớ những lời được gán cho Thánh Phanxicô: “Hãy rao giảng Tin Mừng; dùng lời nói khi cần thiết”).

Trong quá khứ, có lẽ chúng ta có xu hướng quá độc đoán, quá đơn giản, quá vô cảm trước những tình huống và cảm xúc, quá bắt nạt. Ngày nay chắc chắn chúng ta có xu hướng mắc phải sai lầm ngược lại: hèn nhát và sợ bị từ chối. Đôi khi chúng ta bỏ bê ngay cả những hình thức làm chứng nhỏ nhất, chẳng hạn như làm dấu thánh giá trước khi ăn ở nhà hàng.

Chúng ta cần nhớ lại những lời của Chúa Giêsu lặp lại lời của ngôn sứ Ezekiel trong bài đọc hôm nay: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10:32–33). -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Chúa Nhật thứ XXIII Mùa Thường Niên, năm A: Giáo hội có thẩm quyền

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu (15:18-20)

Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

“Thầy bảo thật anh em : dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

“Thầy còn bảo thật anh em : nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”

----------

Ba điều Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay đều liên quan đến Giáo hội.

Điều đầu tiên là về thẩm quyền của Giáo hội trong việc hòa giải các tranh chấp. Đây là tòa thẩm phán cuối cùng sau khi hòa giải giữa cá nhân và nhóm đều thất bại.

Bước một: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em”

Bước thứ hai là công chúng thế tục, bắt đầu từ số nhỏ nhất: “Nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân.” Đó là công thức của Cựu Ước về sự công bằng và lẽ thật trong những vụ án đơn giản nhất.

 Bước ba là tòa án tôn giáo. “Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế”. Đó là vạ tuyệt thông. Đó là biện pháp cuối cùng, sau khi mọi thứ khác đã được thử.

Chúa Giêsu ban cho chúng ta ba cơ hội để sám hối và hòa giải, không chỉ một cơ hội và theo một thứ tự nhất định. Lưu ý rằng khi Chúa Giêsu sử dụng từ “ngay cả” (“nếu nó từ chối lắng nghe ngay cả Hội Thánh”), Chúa đang ám chỉ rằng Giáo hội có thẩm quyền cao nhất. Và việc rút phép thông công khỏi Giáo hội là một hình phạt nặng nề hơn cả việc bị loại ra khỏi tình bạn riêng tư (phương sách đầu tiên) hoặc một cộng đồng thế tục (phương sách thứ hai).

Điều thứ hai Chúa Giêsu nói là về quyền “trói buộc và tháo cởi” của các Tông đồ và những người kế vị các vị, các giám mục và linh mục của Giáo hội, để phán xét điều thiện và điều ác, điều phải và điều sai, và làm trung gian cho sự tha thứ của Thiên Chúa trong bí tích Hòa giải. Ở đây cũng vậy, Giáo hội có một thẩm quyền phi thường, không giống bất kỳ quyền hành nào khác trên trái đất. Chỉ có Giáo hội mới nói rằng những phán xét của Giáo hội sẽ giống như những phán xét trên trời – “dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy” – bởi vì Giáo hội có thẩm quyền của chính Đức Kitô.

Điều thứ ba là về sức mạnh của lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện thực sự “có tác dụng”, mặc dù nó hoạt động không giống như một cỗ máy, cách tự động, mà là một cách cá nhân, thông qua mối quan hệ cá nhân về đức tin, hy vọng và tình yêu giữa chúng ta và Thiên Chúa.

“Cầu nguyện thay đổi mọi thứ.” Lời cầu nguyện tạo ra sự khác biệt thực sự, không chỉ mang lại niềm an ủi chủ quan cho chúng ta mà còn cho người khác và thế giới mà chúng ta cầu nguyện. Và cũng như hai câu nói đầu tiên về thẩm quyền của Giáo hội, lý do là chính Chúa Kitô và thẩm quyền của Ngài hiện diện. Hãy chú ý từ “Vì [ở đâu có hai ba người…]”: Chúa Giêsu nói rằng khi hai hoặc ba người cùng nhau cầu nguyện (biểu hiện nhỏ nhất của Giáo hội), Cha trên trời của chúng ta sẽ đáp lại lời cầu nguyện đó vì Chúa Giêsu ở đó “ở giữa họ” cầu nguyện với họ, và Chúa Cha luôn đáp ứng những lời cầu nguyện của Con Ngài.

Câu nói đó thì rõ ràng. Chúa Giêsu ngụ ý chính xác những gì Ngài nói. Hãy nghe lời Ngài nói: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7:7–8). Ngài hứa sẽ đáp lại mọi lời cầu nguyện của chúng ta, làm thỏa mãn mọi ước muốn trong lòng chúng ta.

Ngài không hứa sẽ trả lời như thế nào và khi nào, bởi vì cách thức và thời điểm của Ngài tốt hơn và khôn ngoan hơn chúng ta rất nhiều. Đôi khi Ngài phải trả lời những mong muốn nông cạn của chúng ta bằng câu trả lời không, để đáp lại những mong muốn sâu sắc hơn của chúng ta bằng câu trả lời có. Và đôi khi Ngài phải dành thời gian để trao ban cho chúng ta những điều tốt đẹp, bởi vì cuộc sống thì giống như một trang trại, cần có thời gian để trồng trọt hơn là một cỗ máy mà sẽ cho bạn kết quả ngay lập tức chỉ bằng một nút bấm.

Nhưng Ngài hứa sẽ đáp lại mọi lời cầu nguyện của mọi trái tim trung thành. Và Chúa Giêsu chắc chắn sẽ giữ lời hứa của mình. Phần của chúng ta là tin tưởng và chờ đợi trong đức tin. Chúng ta nói: “Thấy thì sẽ tin thôi”, nhưng Chúa Giêsu thì nói: “Tin là nhìn thấy”. Chúng ta nói rằng chúng ta sẽ không tin điều đó trong tâm hồn chúng ta trừ khi mắt chúng ta nhìn thấy nó. Chúa Giêsu nói rằng nếu chúng ta tin điều đó trong tâm hồn mình thì cuối cùng chúng ta sẽ nhìn thấy nó bằng con mắt mình, bởi vì mọi ước muốn tốt đẹp cuối cùng sẽ được thực hiện, nếu không ở thế giới này rồi thì trong thế giới mai này. Đó là điều Ngài hứa: “Ai xin thì nhận được; và ai tìm thì sẽ thấy; ai gõ cửa thì sẽ mở cho.”

Không có gì khác lạ khi nói như vậy; đó chỉ là nói ra những gì Chúa Giêsu nói và mời bạn tin vào lời Ngài. Nếu bạn không thể tin lời Ngài và tin tưởng Ngài, thì bạn còn có thể tin ai được?

Chúa Giêsu nói rằng để sống trong vương quốc của Người, chúng ta cần phải trở nên giống như trẻ nhỏ. Trẻ nhỏ có gì mà chúng ta thiếu? Niềm tin, lòng trông cây và tính đơn giản, mộc mạc. Vấn đề của chúng ta không phải là chúng ta quá đơn giản: vấn đề của chúng ta là chúng ta không đủ đơn giản. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle A)

Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước trời -- Chúa Nhật thứ XXI Mùa Thường niên, Năm A

Đoạn Kinh Thánh tử Cựu ước trong bài đọc hôm này kể về việc ông En-gia-kim được trao chìa khóa Nhà Đavít. Đoạn này được chọn vì rõ ràng nó báo trước một đoạn nổi tiếng hơn, đó là đoạn trong Tin Mừng hôm nay, khi Chúa Giêsu gọi Simon là “Phêrô”, nghĩa là “đá, ” và nói rằng Ngài sẽ xây Giáo hội của Ngài trên tảng đá này. Cùng một công thức từ ngữ về trao thẩm quyền mà Thiên Chúa thiết lập được dùng trong cả đoạn văn của Chúa Giêsu nói với Phêrô, cũng như đoạn Cựu Ước, trong đó Chúa ủy quyền cho En-gia-kim thay vì Shebna làm thượng tế. Đó là quyền trói buộc và tháo cởi, để “khi nó mở thì không ai được đóng; khi nó đóng thì không ai mở được.” Trong đoạn sách Isaia, En-gia-kim sẽ được Chúa làm cho “vững chắc như đinh đóng cột”. Còn Chúa Giêsu nói Phêrô là “tảng đá” và cũng có cùng ý nghĩa là chắc chắn và bất di bất dịch. Hình ảnh Chúa Giêsu dùng thậm chí còn mạnh mẽ hơn, và lời hứa của Người cũng mạnh mẽ hơn, vì Người nói thêm rằng “trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”.

… Chúa Giêsu hứa rằng ngay cả hỏa ngục cũng không thắng được Giáo Hội của Người. Và địa ngục đã không ngừng cố gắng trong mọi thế kỷ. Giáo hội Công giáo luôn là kẻ thù công khai số một của mọi tên bạo chúa độc ác, từ Caesar đến Hitler, và tất cả các cuộc cách mạng vô thần, từ Cách mạng Pháp dưới thời Robespierre đến Cách mạng Nga dưới thời Lê-nin đến Cách mạng Cộng sản Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông. Nhiều lúc Giáo Hội tưởng chừng như đang chết dần nhưng Giáo Hội luôn sống lại lần nữa. Nếu thế giới tồn tại thêm một vạn năm nữa, hay thậm chí một triệu năm nữa, chúng ta chỉ có thể chắc chắn hai điều sẽ tồn tại cùng với nó: dân tộc Israel và Giáo hội Công giáo. Thiên Chúa đã long trọng thiết lập hai giao ước: với dân Israel và với Giáo hội. Và Thiên Chúa không bao giờ bội ước với những lời hứa của Ngài.

… Cũng hãy lưu ý rằng Chúa Giêsu không gọi Phêrô là “ông chủ” hay “người chỉ huy” hay thậm chí là “người cai trị” Giáo hội của Người, mà là “tảng đá”. Một tảng đá ổn định và đáng tin cậy, không độc tài. Nó cần phải là “bảo thủ”. Nó không lay chuyển. Giáo hội luôn “bị mắc kẹt trong vũng bùn” bởi vì vũng bùn mà Giáo hội đã may mắn bị dính chặt vào chính là Chúa Kitô. Nhưng Giáo hội cũng luôn sống động, tăng trưởng và tiến bộ và vì thế, “tiền tiến”. Là một tổ chức nhưng vượt qua hết mọi thể loại chính trị. Chúa Giêsu nói: “Bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt. 13:52). Giáo Hội đang sống động và phát triển dần dần, từ bên trong, giống như một sinh vật, chứ không phải đột ngột và từ bên ngoài, như một tòa nhà hay một cỗ máy.
… Cuối cùng, ở dòng cuối cùng trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu bảo các môn đệ đừng nói cho ai biết Người là Đấng Messia. Tại sao? Thánh Gioan nói với chúng ta trong Tin Mừng của ngài: “nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6:15). Hầu hết người Do Thái mong đợi Đấng Mêsia tay nắm giữ quyền lực chính trị và cai trị trần thế, với tư cách là Vua Đa-vít mới, và giải phóng Israel khỏi chế độ độc tài, hung hãn của La Mã, một chính quyền cướp đoạt tài sản của dân Do thái và nền độc lập của họ. Nhưng sự giải thoát Chúa Giêsu đem đến là giải thoát chúng ta khỏi sự bạo ngược thiêng liêng của kẻ thù thực sự, tội lỗi của chúng ta, đang cướp đi linh hồn và sự cứu rỗi của mình. Chúa Giêsu lánh mặt khỏi những người chạy đến với Ngài vì những lý do sai trái. Ngài không tranh cử; Ngài tránh khỏi những nhiệm sở. Ngài có việc làm cao cả hơn và một vương quốc quý giá hơn để thiết lập. Chúa Giêsu không tranh cử tổng thống /thủ tướng. --Trích từ Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections for Mass Readings - Cycle A

Chúa Nhật thứ XVII, Mùa Thường niên, năm A

Các bài đọc

Ba dụ ngôn hôm nay rõ ràng đang nói về vương quốc của Chúa trên thế gian là Giáo hội, chứ không phải là vương quốc hoàn tất của sự sống đời sau. Những câu chuyện ngụ ngôn này được những người trở thành Công giáo khi đã trưởng thành yêu thích vì những trải nghiệm được mô tả trong đó dường như rất song song với một số trải nghiệm của chính họ khi tìm đường (hay đúng hơn là về việc Chúa tìm thấy họ và đưa họ) vào Giáo hội Công giáo.

Dụ ngôn đầu tiên nói với chúng ta rằng nước trời  không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nó giống như “kho báu bị chôn vùi”. Không có bảng quảng cáo nào nói rằng, “Đường đi đến một Giáo hội hoàn hảo.” Trên thực tế, những người chạy quá tốc độ trên đường cao tốc của cuộc đời sẽ không bao giờ tìm thấy nó. Bạn phải đào, phải kiếm tìm. Có lẽ là đào trong vườn nho. Đột nhiên bạn cuốc nhằm cái gì đó. Phải nó không? Đúng rồi. Sau đó bạn sẵn sàng bỏ tất cả những gì mình có để mua mảnh ruộng đang giấu viên ngọc đẹp đó. (Việc “bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng đó” có thể áp dụng cho những người đón nhận lời khuyên sống khó nghèo của Phúc âm trong đời sống tu trì).

Dụ ngôn thứ hai cũng tương tự như chuyện dụ ngôn thứ nhất. Một lần nữa, nước Chúa trên trái đất này thì không rõ ràng. Có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, thậm chí có thể là hàng giả, “ngọc trai giả” hoặc ngọc trai kém chất lượng. Người ta cần phải có những sáng suốt cần thiết – thực sự là sự khôn ngoan, như Sa-lô-môn đã cầu xin – để phân biệt được viên ngọc trai thật và có giá trị so với tất cả những viên ngọc trai giống nhau và đồ trang sức trên y phục. Nó được tìm thấy bởi những người đang xem xét cẩn thận và (có lẽ) đã có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm này.

Dụ ngôn thứ ba là một trong những dụ ngôn quan trọng nhất để người Công giáo hiểu và chấp nhận. Nó cho chúng ta biết rằng nước Chúa, với những kho tàng ân sủng trong đó, cũng sẽ là một mớ hỗn hợp trong thời đại này. Giống như chiếc lưới thả xuống biển bắt được nhiều loại cá, thì Giáo hội cũng giống như chiếc lưới của Phêrô, của các Tông đồ cộng tác với ngài, những người kế vị Phêrô, bắt trong lưới đó, cả thánh nhân và kẻ tội lỗi, vào nước Chúa. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai ở trong Giáo hội trần thế này cũng sẽ kiên trì đi theo Chúa cho đến giây phút cuối cùng.

“Nước trời” trong Phúc âm thánh Mát-thêu, theo một nghĩa nào đó, không là gì khác Chúa Giê-su: Ngài chính là Vua của Vương quyền này. Tuy nhiên, vì Giáo hội là Nhiệm thể của Chúa Kitô và được kết hợp với Người, nên những gì được nói về vương quốc cũng được áp dụng cho Giáo hội, cả Giáo hội Khải hoàn trên trời và Giáo hội Chiến đấu trên trần thế này. Bảy dụ ngôn về Nước trời trong Phúc âm thánh Mát-thêu chương 13, rõ ràng không nói về Giáo hội Khải hoàn, Giáo hội đang hưởng sự vinh hiển trước mặt Chúa; những dụ ngôn này cũng không miêu tả (phần lớn) về vương quốc được thể hiện qua Ngôi vị của Đức Kitô Vua. Không, những câu chuyện ngụ ngôn về một vương quốc ẩn giấu, bắt đầu cách nhỏ bé, phát triển cách chậm chạp, khó nhận ra, trộn lẫn giữa lúa với cỏ lùng và cá xấu, là một mô tả về Giáo hội Chiến đấu – thậm chí có lẽ chính là giáo xứ của chúng ta!

Nhiều người tự bổ nhiệm mình là “nhà cải cách” trong lịch sử Giáo hội, và đã phân chia Giáo hội quà dòng lịch sử, để thành lập một giáo hội “thuần khiết” hoặc “đã được sàng lọc”. Thậm chí ngày nay, nhiều người rời bỏ Giáo hội Công giáo để đến với các giáo phái, hệ phái, thậm chí là giáo phái khác nhau, vì sự bê bối của tội nhân trong Nhiệm thể Chúa Kitô. “Làm sao đây có thể là Nước Chúa khi có những người như thế ở trong đó?” Tuy nhiên, nó đã xảy ra, và Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng ở trong trần thế này, Giáo hội sẽ là như vậy.

Chúng ta cần có sự khôn ngoan để nhận ra rằng Giáo hội Chiến đấu, với tất cả các vết rạn nứt và vết thương của mình, là nước trời đến với trần gian. Sự khôn ngoan này chỉ đến từ Chúa, ban phát cho những ai yêu mến Ngài. Nếu chúng ta ngoan ngoãn vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu, Đấng cao cả hơn Sa-lô-môn, Ngài sẽ dạy chúng ta sự khôn ngoan của Nước trời. -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year A

Chúa Nhật thứ XVII, Mùa Thường niên, năm A

Các bài đọc

Ba dụ ngôn hôm nay rõ ràng đang nói về vương quốc của Chúa trên thế gian là Giáo hội, chứ không phải là vương quốc hoàn tất của sự sống đời sau. Những câu chuyện ngụ ngôn này được những người trở thành Công giáo khi đã trưởng thành yêu thích vì những trải nghiệm được mô tả trong đó dường như rất song song với một số trải nghiệm của chính họ khi tìm đường (hay đúng hơn là về việc Chúa tìm thấy họ và đưa họ) vào Giáo hội Công giáo.

Dụ ngôn đầu tiên nói với chúng ta rằng nước trời  không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nó giống như “kho báu bị chôn vùi”. Không có bảng quảng cáo nào nói rằng, “Đường đi đến một Giáo hội hoàn hảo.” Trên thực tế, những người chạy quá tốc độ trên đường cao tốc của cuộc đời sẽ không bao giờ tìm thấy nó. Bạn phải đào, phải kiếm tìm. Có lẽ là đào trong vườn nho. Đột nhiên bạn cuốc nhằm cái gì đó. Phải nó không? Đúng rồi. Sau đó bạn sẵn sàng bỏ tất cả những gì mình có để mua mảnh ruộng đang giấu viên ngọc đẹp đó. (Việc “bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng đó” có thể áp dụng cho những người đón nhận lời khuyên sống khó nghèo của Phúc âm trong đời sống tu trì).

Dụ ngôn thứ hai cũng tương tự như chuyện dụ ngôn thứ nhất. Một lần nữa, nước Chúa trên trái đất này thì không rõ ràng. Có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, thậm chí có thể là hàng giả, “ngọc trai giả” hoặc ngọc trai kém chất lượng. Người ta cần phải có những sáng suốt cần thiết – thực sự là sự khôn ngoan, như Sa-lô-môn đã cầu xin – để phân biệt được viên ngọc trai thật và có giá trị so với tất cả những viên ngọc trai giống nhau và đồ trang sức trên y phục. Nó được tìm thấy bởi những người đang xem xét cẩn thận và (có lẽ) đã có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm này.

Dụ ngôn thứ ba là một trong những dụ ngôn quan trọng nhất để người Công giáo hiểu và chấp nhận. Nó cho chúng ta biết rằng nước Chúa, với những kho tàng ân sủng trong đó, cũng sẽ là một mớ hỗn hợp trong thời đại này. Giống như chiếc lưới thả xuống biển bắt được nhiều loại cá, thì Giáo hội cũng giống như chiếc lưới của Phêrô, của các Tông đồ cộng tác với ngài, những người kế vị Phêrô, bắt trong lưới đó, cả thánh nhân và kẻ tội lỗi, vào nước Chúa. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai ở trong Giáo hội trần thế này cũng sẽ kiên trì đi theo Chúa cho đến giây phút cuối cùng.

“Nước trời” trong Phúc âm thánh Mát-thêu, theo một nghĩa nào đó, không là gì khác Chúa Giê-su: Ngài chính là Vua của Vương quyền này. Tuy nhiên, vì Giáo hội là Nhiệm thể của Chúa Kitô và được kết hợp với Người, nên những gì được nói về vương quốc cũng được áp dụng cho Giáo hội, cả Giáo hội Khải hoàn trên trời và Giáo hội Chiến đấu trên trần thế này. Bảy dụ ngôn về Nước trời trong Phúc âm thánh Mát-thêu chương 13, rõ ràng không nói về Giáo hội Khải hoàn, Giáo hội đang hưởng sự vinh hiển trước mặt Chúa; những dụ ngôn này cũng không miêu tả (phần lớn) về vương quốc được thể hiện qua Ngôi vị của Đức Kitô Vua. Không, những câu chuyện ngụ ngôn về một vương quốc ẩn giấu, bắt đầu cách nhỏ bé, phát triển cách chậm chạp, khó nhận ra, trộn lẫn giữa lúa với cỏ lùng và cá xấu, là một mô tả về Giáo hội Chiến đấu – thậm chí có lẽ chính là giáo xứ của chúng ta!

Nhiều người tự bổ nhiệm mình là “nhà cải cách” trong lịch sử Giáo hội, và đã phân chia Giáo hội quà dòng lịch sử, để thành lập một giáo hội “thuần khiết” hoặc “đã được sàng lọc”. Thậm chí ngày nay, nhiều người rời bỏ Giáo hội Công giáo để đến với các giáo phái, hệ phái, thậm chí là giáo phái khác nhau, vì sự bê bối của tội nhân trong Nhiệm thể Chúa Kitô. “Làm sao đây có thể là Nước Chúa khi có những người như thế ở trong đó?” Tuy nhiên, nó đã xảy ra, và Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng ở trong trần thế này, Giáo hội sẽ là như vậy.

Chúng ta cần có sự khôn ngoan để nhận ra rằng Giáo hội Chiến đấu, với tất cả các vết rạn nứt và vết thương của mình, là nước trời đến với trần gian. Sự khôn ngoan này chỉ đến từ Chúa, ban phát cho những ai yêu mến Ngài. Nếu chúng ta ngoan ngoãn vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu, Đấng cao cả hơn Sa-lô-môn, Ngài sẽ dạy chúng ta sự khôn ngoan của Nước trời. -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year A

Khi tôi cô đơn, hãy trao cho tôi Chúa Giêsu - Chúa Nhật thứ XIV Mùa thường niên, năm A

Khi Chúa Giêsu nói: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi”, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu tuyên bố mình là người thừa kế vương quốc của Đa-vít và Vương quốc của Chúa bao hàm toàn thể vũ trụ là một. Hai vương quốc thực sự là một và tương tự như nhau. Cũng như Đa-vít trao toàn quyền cho Sa-lô-môn, người đã cưỡi lừa vào Giê-ru-sa-lem để lên ngôi vua; Thiên Chúa cũng đã trao mọi sự cho Chúa Giêsu (Ep 1:22), Đấng cũng là Con vua Đavít.

Con lừa thấp hèn của Đa-vít mà Sa-lô-môn cưỡi là lời tuyên bố công khai về mối quan hệ thân thiết giữa cha và con. Vì vậy, ở đây, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự thân mật của Người với Chúa Cha: “Không ai biết Chúa Cha, trừ người Con”. Chỉ một mình Chúa Giêsu, giữa tất cả các bậc thầy dạy các tôn giáo, Đấng đã sống giữa chúng ta, hiểu biết và cảm nghiệm Thiên Chúa thực sự là Cha của mình, và vì thế, có khả năng để dạy chúng ta cách để có mối tương quan với Thiên Chúa Cha. Môsê, Plato, Đức Phật, Khổng Tử và Mohammed chưa ai bao giờ dám tuyên bố có mối tương quan thân mật với Thiên Chúa Cha của Chúa Giêsu, nên không thể nào dạy người khác về mối tương quan khắng khít đó.

Ở đây Chúa Giêsu nói những lời an ủi, một số câu Kinh Thánh yêu thích mà nhiều Kitô hữu đã thuộc lòng:

“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

Có một sự kết nối thường không được nhận ra, nhưng trong trọn đoạn này, Chúa Giêsu đang ám chỉ đến sách 1 Các Vua 12, tường thuật về sự chuyển đổi từ Sa-lô-môn sang Rô-bô-am, người thừa kế của ông, và sự chia rẽ bi thảm sau đó của vương quốc Đa-vít thành hai miền Bắc và Nam.

Sau khi Sa-lô-môn qua đời, dân Israel đến với Rô-bô-am vì họ phải chịu gánh nặng lao động khổ sai và muốn được thoát khỏi sưu thuế nặng nề. Họ cầu xin Rô-bô-am, người vừa lên ngôi vua, giảm bớt ách thuế khóa và lao động cưỡng bức. Nhưng Rô-bô-am kiêu ngạo và vênh váo: ông hứa cho họ một “ách nặng nề” (1 Các vua 12:11) và tăng thêm gánh nặng cho họ. Kết quả là các chi tộc phía bắc ly dị Con vua Đa-vít và trở về nhà họ (Dr. John Bergma dùng từ ly dị để muốn nói vua thời Đavít được nhận là ‘cưới’ dân tộc, đất nước mình. Một hình bóng của Chúa Kitô và Hội Thánh). Họ đã chọn một vị vua khác, Giê-rô-bô-am, và sự tan rã đáng tiếc của một thời đã là vương quốc Đa-vít nay đã bắt đầu.

Trong những câu Kinh thánh từ thánh Mát-thêu này, Chúa Giêsu, Con vua Đa-vít đối chiểu Ngài với những người con vua Đa-vít hư hỏng và ngược đãi Thiên Chúa trước Ngài, những người mà sự ích kỷ của họ đã dẫn làm tan hoang dân Chúa. Chúa Giêsu đến với tư cách là Đấng chữa lành và an ủi, là Đấng đoàn tụ “Ép-ra-im” ở phía bắc và “Giê-ru-sa-lem” ở phía nam, như chúng ta đã thấy trong bài đọc thứ nhất.

Chúa Giêsu đã thống nhất và phục hồi dân Israel đích thực xung quanh mười hai tộc trưởng mới, mười hai tông đồ. Giáo hội mà họ thành lập là vương quốc được phục hồi của Đa-vít, được cai trị rõ ràng trong thế gian này bởi người quản lý hoàng gia của Đa-vít (xem Is 22:20; 2 Vua 18:18), người mà chúng ta gọi là “Giáo hoàng.” Trong Bí Tích Thánh Thể Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu đến với chúng ta với tư cách là chàng rể và vua của chúng ta. Ngài đã kết hôn bản tính của Người với bản tính của chúng ta trong một cuộc hôn phối siêu hình giữa bản tính thần linh và bản tính con người: cả hai trở nên một xương một thịt. Chúng ta có mang gánh vất vả vả nặng nề không? Chúa Giêsu đón nhận vào vương quốc của Người tất cả những ai ăn năn sám hối, tất cả những ai khổ sở vì  gánh nặng tội lỗi của mình và của người khác. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta được nếm trước sự kết hợp ngọt ngào mà chúng ta sẽ tận hưởng với Chúa chỉ trong một thời gian rất ngắn, và sự nếm trước này mang lại cho chúng ta sức mạnh và niềm vui trong một tuần nữa.

Buổi sáng khi tôi thức dậy,
hãy trao cho tôi Chúa Giêsu.
Bạn cứ có hết thảy mọi sự trên trần gian
chỉ trao cho tôi Chúa Giêsu.
Khi tôi một mình
Ôi, khi tôi cô đơn
Hãy trao cho tôi Chúa Giêsu.

Chúa nhật thứ XII Mùa Thường Niên, Năm A -- Hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu (10:26-33)

Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày ; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

“Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”

-----

Những lời này có ý nghĩa gì với chúng ta? Đây là những lời đầy thách thức của Chúa Giêsu. Trước hết, rõ ràng là các môn đệ của Chúa Giêsu sợ hãi. Từ trước đến giờ, Chúa Giêsu đã đi khắp nơi với họ. Ngài giảng dạy và giờ đây Ngài cử họ từng đôi một, ra đi giảng dạy về nước trời nên rõ ràng là họ lo lắng, sợ hãi, run sợ về việc lần đầu tiên đi làm sứ mệnh. Vì vậy, một trong những lời khuyên của Chúa Giêsu đối với họ là “đừng sợ”. Đó là điểm đầu tiên.

Điểm thứ hai: bạn hãy để ý đến sự nhấn mạnh vào là các môn đệ không chỉ sợ việc đi giảng dạy, nhưng họ đặc biệt sợ tử đạo. Tại sao Chúa Giêsu nói họ không nên sợ chết? Chẳng lẽ việc sợ, không chỉ là sợ chết mà còn là bị giết chết vì Tin Mừng không là điều hợp lý sao? Điều Chúa Giêsu nói có nghĩa là gì và tại sao Chúa Giêsu lại nói như vậy?

Câu hỏi thứ ba ở đây là khi Chúa Giê-su nói “hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục,” Chúa đang nói về điều gì?

Trước hết, lời khuyên “đừng sợ” của Chúa Giê-su ở đây tự nó là một thách đố. Như bạn đã biết, nếu bạn đã sống trong thế giới này dù chỉ vài năm, bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng trái đất này là một nơi nguy hiểm. Cuộc sống thì rất mong manh, hôm nay còn, mai mất. Tệ nạn, hiểm nguy trên đời nhiều vô số kể, nên sợ hãi là điều đương nhiên. Tại sao Ngài bảo họ “đừng sợ”?

Nhưng nếu bạn đặt câu này vào ngữ cảnh, câu này không ở trong bài đọc hôm nay. Trong Phúc âm Mát-thêu 10:24-25, bối cảnh là Chúa Giê-su nói với các môn đồ đầy tớ không trọng hơn chủ mình nên nếu người ta nói rằng Ngài bị Bê-ên-xê-bun ám, thì họ cũng sẽ không nói tốt về các môn đệ của Ngài. Nói cách khác, các môn đệ có thể bị bắt bớ, có thể bị vu khống như Chúa Giêsu đã bị vu khống.

Nhưng những gì Chúa đang nói với các môn đệ là “Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết” Nói cách khác, sự thật sẽ được bộc lộ là điều Chúa Giêsu muốn nói với họ. Sự thật về Đấng Kitô là ai cuối cùng sẽ được biết đến mặc dù hiện tại Ngài đang hoạt động cách bí ẩn. Chẳng hạn Chúa Giêsu thường cấm người ta: “Đừng nói gì cả”, đừng nói Ngài là Con Thiên Chúa vì cuối cùng nó sẽ được bày tỏ. Vì vậy, họ không cần phải sợ hãi, họ sẽ công bố sự thật đó từ trên nóc nhà.

Và khi họ làm điều đó, họ sẽ bắt đầu gặp phải sự bắt bớ như Chúa Giêsu. Vì vậy, Ngài nói: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn.” Chúa Giêsu ám chỉ điều gì ở đây? Các từ Hy Lạp ở đây là sōma, về cơ bản là từ cho cơ thể của chúng ta, và sau đó là psychē - chúng ta có từ tâm lý học từ đó (psychology) – dùng để chỉ tâm thần / linh hồn – là nguyên lí thiêng liêng, nguyên lí làm thống nhất cơ thể và làm nó được sinh động. Điều Người muốn nói là “đừng sợ những kẻ có thể giết thân xác, những kẻ có thể hủy hoại thân xác hay chết của các con, vì chúng không thể làm cho các con mất linh hồn. Thay vì vậy, các con phải sợ hãi Đấng có thể hủy diệt cả linh hồn và thể xác trong địa ngục”, hay như người Hy Lạp nói theo nghĩa đen, ở Gehenna, nơi dành cho những kẻ bị nguyền rủa.

Vì vậy, Chúa Giêsu đang giúp môn đệ có một nỗi sợ hãi hợp lý thay vì một nỗi sợ hãi phi lý. Mặc dù hầu hết chúng ta nghĩ rằng việc sợ chết là hợp lý; chúng ta có cảm giác rằng cái chết là đau đớn, là sự kết thúc cuộc sống tự nhiên của chúng ta. Chúa Giêsu lại nói thật phi lý khi sợ cái chết thể xác, cái chết tạm thời và hữu hạn – dù kinh khủng đến đâu, nó chỉ tồn tại trong một thời gian - hơn là sợ cái chết tâm linh, bởi vì cái chết tâm linh – bị tách rời khỏi Thiên Chúa, mãi mãi ở Gehenna, tên gọi cổ xưa của người Do Thái dành cho địa ngục, cõi dành cho sự chết – là thứ sẽ tồn tại mãi mãi, không bao giờ kết thúc.

Vì thế, điều Người muốn nói với các môn đệ là “khi anh em ra đi rao giảng Tin Mừng, anh em không có lý do gì để sợ hãi, ngay cả khi mạng sống của anh em gặp nguy hiểm, bởi vì bằng việc rao giảng Tin Mừng, anh em sẽ cứu được linh hồn mình, và sự sống của linh hồn anh em sẽ tồn tại mãi mãi, trong khi sự sống của thể xác trên thế gian này chỉ là nhất thời.”

Chúa Giêsu đang cố gắng chuyển đổi cách nhìn của các môn đồ về cuộc sống của họ, cách họ nhìn thấy thực tế, đảo ngược nó để họ có thể thấy cách Thiên Chúa thấy. Ngài dạy họ hãy nhìn với con mắt của Thiên Chúa, từ quan điểm của cõi vĩnh cửu, để hiểu rằng mặc dù họ sống trong thế giới này, họ được tạo ra cho sự sống đời đời, họ được tạo ra cho sự vĩnh cửu

Một số người có thể nói “Khoan đã! Chúa nói điều gì ở đây khi Ngài nói “hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.”? Các Kinh thánh gia đã có một cuộc tranh luận về điều này. Một số người sẽ nói rằng những gì Ngài nói là hãy sợ Satan, bởi vì nó có thể kéo con người xuống địa ngục qua việc cám dỗ, qua việc làm cho ta sợ hãi và phạm tội. Đó là một cách giải thích có thể được chấp nhận vì thư thứ nhất của thánh Phêrô nói ma quỷ tìm cách làm cho người ta sa ngã, nó tìm cách hủy diệt sự công chính, hủy hoại các linh hồn, nó tìm cách khiến họ sa hỏa ngục.

Nhưng Chúa Giêsu đang nói gì ở đây? Ngài đang nói rằng đừng sợ con người, những kẻ chỉ có thể giết chết cơ thể bạn. Hãy sợ Chúa, Đấng có thể ném cả thân thể và linh hồn bạn vào ngọn lửa của Gehenna, nơi bạn sẽ bị tách lìa khỏi Chúa cách vĩnh viễn, nơi bạn sẽ trải nghiệm một loại hủy diệt tâm linh hay cái chết tâm linh, chính là địa ngục.

Vì vậy, nếu bạn quay lại Cựu Ước trong Isaia 8:12-13 chẳng hạn, đó là một đoạn khá tương đương với đoạn này. Isaia 8 có nói “Chính ĐỨC CHÚA các đạo binh là Đấng các ngươi phải nhìn nhận là thánh. Chính Người là Đấng các ngươi phải sợ, chính Người là Đấng các ngươi phải kinh hãi.” Nói cách khác, Isaia không nói bạn phải sợ Chúa đến mức bạn không thể có mối tương quan với Ngài, hoặc nghĩ rằng Ngài là một bạo chúa. Điều Isaia nói ở đây là một sự kính sợ hợp lý, một nỗi sợ hãi hợp lý khi xúc phạm đến Chúa; hãy sợ phạm tội chống lại Thiên Chúa, Đấng thánh thiện và liêm chính, hãy sợ xúc phạm Chúa đến nỗi bạn sẽ bị tách lìa khỏi Ngài, phá vỡ giao ước với Ngài, phá vỡ mối quan hệ của bạn với Ngài. Đó là sự kính sợ Chúa mà Cựu Ước nói đến và sự kính sợ này thực ra là khởi đầu của sự khôn ngoan. Sách Châm ngôn nói điều đó nhiều lần và một trong các Thánh vịnh cũng nói rằng, kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan.

Đôi khi điều đó làm người ta phản cảm, họ nghĩ rằng như vậy có nghĩa là họ phải “sợ Chúa” theo cách họ phải sợ ai đó muốn làm hại mình. Đó không phải là ý nghĩa của Kinh thánh. Nỗi sợ ở đây là nỗi sợ xuất phát từ sự kính nể, xuất phát từ tình yêu. Nói cách khác, chúng ta sợ xúc phạm đến Thiên Chúa vì Ngài quá tốt lành với chúng ta, quá thánh thiện, vì Ngài là một người Cha yêu thương, và cũng vì phạm tội có nghĩa là phải xa Ngài mãi mãi trong hỏa ngục. Đó là những gì Chúa Giêsu muốn nói ở đây, Chúa Giêsu đang cố gắng dạy các môn đệ hãy từ bỏ nỗi sợ hãi trần thế và hãy có cái sợ siêu nhiên về tội lỗi.

Đây là sự lựa chọn: sự lựa chọn giữa việc phạm tội chống lại Chúa và đánh mất linh hồn mãi mãi, hoặc chết để có được sự sống đời đời. Khi so sánh như vậy, sự lựa chọn thì rõ ràng. Chọn cái chết thân xác để được sống mãi mãi có ý nghĩa hơn nhiều so với việc chọn sống một cuộc sống chỉ là trần tục, và có thể là với cái giá của cái chết vĩnh viễn, do xa cách Thiên Chúa trong ngọn lửa của Gehenna. Đó là điều Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu ở đây. -- Dr. Brant Pitre

Chúa Nhật thứ IV Mùa Chay, năm A: Mù từ khi mới sinh -- từ bóng tối của tôi và sự chết đi vào ánh sáng và hiện hữu

Người mù từ khi mới sinh là mẫu hình của người đã được rửa tội. Tất cả chúng ta được sinh ra trong tình trạng mù của tâm linh, sinh ra trong tội tổ tông.

Câu hỏi của các môn đệ: “Ai đã phạm tội… anh ta hay cha mẹ anh ta?” phản ánh niềm tin của người Pha-ri-sêu rằng dị tật bẩm sinh là kết quả của tội lỗi cha mẹ, nếu không thì chính đứa trẻ đã phạm tội khi còn trong bụng mẹ.

Chúa Giêsu nói “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.” Trái lại, đây là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.

Chúa Giêsu khẳng định: “Ta là sự sáng của thế gian”. Để hiểu nghĩa lời tuyên bố này, và toàn bộ câu chuyện chữa lành ở đây, chúng ta phải lưu ý rằng nó xảy ra trong một đoạn dài của Phúc âm thánh Gioan (chương 7–9) và diễn ra trong Lễ Lều của người Do Thái. Lễ hội rực rỡ này được đánh dấu bằng hai chủ đề: ánh sáng (Da-ca-ri-a 14:7) và nước (câu 8). Đền thờ được thắp sáng bằng những chiếc đèn menorah khổng lồ suốt đêm trong một tuần, và vào ngày cuối cùng của lễ hội, nước được lấy từ Hồ Siloam và đổ lên bàn thờ của Đền thờ như một lời cầu nguyện cho mưa và là một cách để hiện thực hóa về nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước về một dòng sông chảy ra từ Đền Thờ trong thời kỳ sau cùng (xem Êdêkien 47; Giô-en 3:18; Da-ca-ri-a 14:8).

Chương 9 kết thúc phần dài này của Gioan và tập hợp các chủ đề về nước và ánh sáng, khi Chúa Giêsu dùng nước để đem lại ánh sáng cho người đàn ông này. Rõ ràng, nước và ánh sáng cũng có liên quan đến sự sáng tạo, bởi vì trước tiên nước bao phủ vực sâu, và sau đó Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng” (Sáng thế 1:3).

Nhưng trước tiên, Chúa Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và lấy bùn xức vào mắt người đàn ông.

Việc xức dầu là một chủ đề quan trọng – rửa tội là sự xức dầu của Chúa Thánh Linh. Cho đến ngày nay, nghi thức Rửa tội bao gồm việc xức dầu thánh như một biểu tượng của thực tại này.

Việc Chúa Giêsu nhổ nước miếng vào đất có ý nghĩa gì?

Ý kiến riêng của tôi dựa trên các Cuộn sách Biển Chết, trong đó con người được mô tả là “được nhào nặn từ bụi đất… con người là từ rất nhiều nước nhổ… chỉ là đất sét bị cắt ra” (xem 1 QS 11:21; 1QHa 20:35; 4Q264 1 9). Tôi nghĩ điều này phản ánh cách hiểu của người Do Thái cổ đại về câu chuyện sáng tạo, trong đó Chúa nhổ xuống đất và tạo nên cơ thể của Adam từ đất sét/bùn.

Việc Chúa Giê-su nhổ nước miếng xuống đất là một tóm tắt của công trình sáng tạo nên Ađam, người đàn ông đầu tiên. Chúa Giêsu đang tái tạo người mù này, đưa anh ta từ bóng tối (từ trống rỗng) sang ánh sáng (sáng tạo). Ngài cũng chính là Thiên Chúa đã tuyên bố từ lâu: “Hãy có ánh sáng!”

Các chủ đề sáng tạo mới cũng được bày tỏ ở những điểm khác. Sau khi xức vào mắt, Chúa Giêsu sai người ấy đến hồ Si-lô-ê để rửa. Hồ Si-lô-ê chứa nước của Ghi-hôn, suối cung cấp nước cho Giê-ru-sa-lem. Nó được đặt tên là Ghi-hôn theo tên một trong những con sông của Eđen (Sáng thế 2:13) vì người Do Thái coi Giê-ru-sa-lem là một kiểu của Eđen mới. Vì vậy, một cách huyền nhiệm, nước của Siloam là nước Eđen hoặc nước của cuộc sáng tạo. Người đàn ông mù này đang được làm nên mới.

Sau khi rửa sạch nơi hồ Si-lô-ê, anh ta bước vào ánh sáng (Sáng thế 1:3) và trở về nhà của mình.

Những người biết anh ta không có cùng một ý kiến: một số người nghĩ rằng anh ta chính là người đàn ông đã từng đi ăn xin, nhưng những người khác nói: “Không, trông giống anh ta thôi”.

Người đàn ông trả lời và câu trả lời có vẻ mù mờ: “I am / tôi là”. Anh là cái gì? Giống như trước hay đã khác đi.

Sự mơ hồ là cố ý vì đây là bài giáo lý về phép rửa. Khi chịu phép rửa, chúng ta ra khỏi giếng rửa tội với tư cách là người trước đây hay là một người khác giống như người đã đến để lãnh nhận bí tích Rửa tội? Câu trả lời đúng là: Có cho cả hai! “Nếu ai ở trong Đức Kitô, người ấy là tạo vật mới; cái cũ đã qua … cái mới đã đến” (2 Cor 5:17).

Lưu ý rằng đây là chỗ duy nhất trong Phúc âm thánh Gioan mà không ai khác ngoài Chúa Giê-su sử dụng cụm từ “I AM / Ta là Đấng Hiện hữu”. Sau khi được rửa tội, con người được dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Chúng ta chỉ thực sự bắt đầu hiện hữu khi bước vào mối quan hệ với Chúa Kitô. Cuộc sống không có Chúa Kitô là không tồn tại, là trong bóng tối.

Cuộc đối đáp sau đó với những người Pha-ri-sêu thật hài hước nhưng chúng ta không có đủ chỗ để bình luận về nó ở đây. Những lời tuyên bố của những người Pha-ri-sêu thường rất mỉa mai. Mặc dù được sáng mắt về mặt thể lý, nhưng họ hoàn toàn mù lòa về mặt tâm linh. Phần anh bị mù từ lúc mới sinh, có một sự tiến triển về sự hiểu biết của anh về Chúa Giêsu thông qua hết các sự việc, cho đến cuối đoạn Phúc âm khi anh ta nhận ra cách trọn vẹn Chúa Giêsu là Thiên Chúa và thờ phượng Ngài. Điều này tượng trưng cho sự tăng trưởng về sự hiểu biết của chúng ta về Đức Kitô sau khi lãnh nhận bí tích Rửa tội.

Chúa Giêsu, Vị Mục Tử mới, Vua Đavít mới, Đấng được Chúa Thánh Thần xức dầu, tóm tắt sự trớ trêu của toàn bộ biến cố qua những lời này:

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

Nhìn thấy thế giới qua con mắt của Thiên Chúa bộc lộ sự trớ trêu và mâu thuẫn vì “ Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm… ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng.”

Đối với những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, các bài đọc hôm nay khơi dậy trong tâm hồn chúng ta cảm kích sâu sắc về những gì Thiên Chúa đã được thực hiện cho chúng ta trong Chúa Kitô và được áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta qua các bí tích. Chúng ta là những thụ tạo mới! Chúng ta đã bước vào ánh sáng của Chúa! Chúng ta đã được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần!

Nếu chúng ta cảm thấy mình mệt mỏi, mù mờ và mất tinh thần, có thể tội lỗi hoặc việc bị phân tâm bởi những lo lắng của cuộc sống này (Mt 13:22) đã làm quan điểm của chúng ta bị lệch lạc. Mùa Chay còn ba tuần nữa: đủ thời gian để trở về với việc đi xưng tội, siêng năng cầu nguyện và tách lìa khỏi quyến rũ của thế gian qua việc từ bỏ cái tôi. Rồi chúng ta sẽ khám phá ra niềm vui của việc được “bước đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng,” (1 Gioan 1:7) -- Dr. John Bergsma

Chúa Nhật thứ III Mùa Chay, năm A: Chàng Rể đến với dân của Người, Đấng Mêsia đã đến để cứu dân Người khỏi nô lệ của ngoại bang

Các bài đọc trong Chúa Nhật thứ III Mùa Chay, năm A

Câu chuyện trong bài Phúc âm hôm nay có rất nhiều hình ảnh hôn thê hôn phu trong đó nên khó để nói ra hết ở đây.

Trước hết là việc Chúa Giêsu gặp người phụ nữ này bên giếng nước. Điều này xảy ra ba lần trong Cựu Ước – đó là cách các Tổ phụ gặp người vợ của họ. Hãy nghĩ về I-xa-ác và Rê-bê-ca (Sáng thế 24, dù lễ đính hôn này là do người đại diện); Gia-cóp và Ra-chen (Sáng thế 29); và Môsê và Xíp-pô-ra  (Xuất hành 2). Dựa vào các câu chuyện trong Cựu Ước, khi Chúa Giêsu ngồi xuống bên giếng nước, chúng ta cũng chờ xem nếu có một phụ nữ xuất hiện, và người đàn bà Sa-ma-ri đã làm như vậy!

Kế đến, Chúa Giêsu xin người đàn bà Sa-ma-ri này nước uống. Hãy để ý: xin nước uống cũng đã là dấu hiệu mà đầy tớ của Áp-ra-ham dùng để xác định xem Rê-bê-ca có phải là cô dâu mà Thiên Chúa định cho I-xa-ác hay không (Sáng thế 24:14). (Đáng chú ý là nơi duy nhất khác trong Phúc âm Gioan khi Chúa Giêsu xin nước uống là trên cây thánh giá).

Chúa Giê-su và người đàn bà bắt đầu thảo luận về giếng nước, và ở một thời điểm Chúa Giêsu nói: “Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Đây là một ám chỉ tinh tế đến sách Diễm ca chương 4:15, trong đó chàng rể gọi cô dâu của mình là suối nước hằng sống. Khi chúng ta lãnh nhận nước của Chúa Giêsu, chúng ta bước vào mối liên hệ hôn thê với Người.

Cuối cùng, chủ đề hôn nhân được đề cập rõ ràng khi Chúa Giêsu yêu cầu người phụ nữ đi gọi chồng rồi sau đó trở lại với Ngài. Chị trả lời: “Tôi không có chồng”, và Chúa Giêsu đáp: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”

Đây là một người phụ nữ có lịch sử cá nhân rắc rối; đó là lý do chị đến giếng vào buổi trưa, để tránh những người phụ nữ khác theo thói thường, sẽ đến giếng lúc bình minh và hoàng hôn.

Nhưng lịch sử cá nhân của người phụ nữ là một biểu tượng của lịch sử dân tộc của chị. Chị là một phụ nữ làng Sa-ma-ri. Người Sa-ma-ri là con cháu của những người nghèo ở miền bắc Israel (bị quân Át-sua bỏ lại vào năm 722 trước Công nguyên) và năm quốc gia dân ngoại mà những kẻ chinh phục Israel đem vào Sa-ma-ri. Người dân Israel đã kết hôn với họ và cũng thờ lạy các vị thần của ! (Xem 2 Các Vua 17, đặc biệt là các câu 24–34. Hãy nhớ rằng tác giả của Các Vua quyển hai đã hạ thấp vai trò của những người Israel còn sót lại trong xứ sở, những người mà chúng ta biết đến sự hiện diện của họ từ các nguồn khác).

Sau đó, sau khi người vùng Giuđa trở về Giê-ru-sa-lem vào cuối những năm 500 trước Công nguyên, người Sa-ma-ri phía bắc dần dần từ bỏ việc thờ các thần khác và quay trở lại thờ phượng YHWH (cách dân Israel viết tên Chúa để tỏ lòng tôn kính), Thiên Chúa của Israel, nhưng họ đã không thờ phượng theo giao ước của Chúa với Đa-vít, rằng Giê-ru-sa-lem là nơi thờ phượng. Họ đã xây dựng đền thờ của riêng mình (được đề cập trong Gioan 4) ở Gerizim và tìm cách thiết lập mối quan hệ với Thiên Chúa mà không tuân theo hình thức giao ước đã đặt ra. Ngày nay chúng ta gọi nó là gì khi người ta sống chung với nhau nhưng không có mối quan hệ giao ước đúng đắn? Xem với Gioan 4:18 để thấy sự liên kết: “Vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”

Kinh nghiệm của người phụ nữ phản ánh kinh nghiệm của người dân của cô ấy. Người dân phía bắc Israel, tổ tiên của họ, đã rời bỏ Thiên Chúa, chồng của họ suốt từ sách Các Vua 12 quyển 1 (xem thêm Hôsê 1–3, tất cả các lời tiên tri của Hôsê nói về miền bắc Israel!). Lúc này YHWH (tức Chúa Giêsu), Chàng Rể của Israel (Hôsê 2:14-23) đã trở lại để lôi kéo người dân Sa-ma-ri.

Ngài đã thành công và không chỉ người đàn bà đến múc nước ở giếng mà chính những người dân trong làng cũng tin rằng Ngài là Đấng Mêsia: “Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”.

Xuyên suốt toàn bộ quá trình trò chuyện này là chủ đề về nước hằng sống của Chúa:

“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

Đây là nước của bí tích Rửa tội, nước của Chúa Thánh Thần. Như Chúa Giêsu sẽ nói sau này, vào ngày cuối cùng của Lễ Lều, khi nước được đổ trên bàn thờ trong Đền Thờ:

“Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống ! Như Kinh Thánh đã nói : Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Gioan 7:37-38).

Nếu các bài đọc tuần này khiến chúng ta nghĩ lại ngày ta được rửa tội với cảm giác tiếc nuối, thì đó là một điều tốt. Nhưng chúng ta không cần phải được rửa tội lần nữa để thức tỉnh ơn Chúa Thánh Thần và các ân sủng nhiều người trong chúng ta đã lãnh nhận rất lâu trước đây. Nếu tội lỗi đã làm cạn kiệt nước hằng sống, thì đây là tuần của thời gian thuận tiện, tuần của ân sủng để sắp xếp việc đi xưng tội, một bí tích mà các Giáo phụ và các Tiến sĩ Hội thánh coi là việc làm bí tích Rửa tội được mới lại. -- Dr. John Bergsma

Chúa Nhật thứ II Mùa Chay: Chúa Giêsu Kitô -- Đấng trung gian độc nhất vô nhị, năm A

Các Giáo phụ từ lâu đã nhận ra việc Chúa Biến Hình là một sự nếm trước hoặc một cái nhìn thoáng qua về vinh quang của Chúa Kitô sau khi Ngài phục sinh. Chúa cho Phêrô, Giacôbê và Gioan được nhìn thấy vinh quang của Ngài để khuyến khích họ kiên trì vượt qua những thời kỳ khó khăn sắp tới, trước khi họ được nhìn thấy sự phục sinh của Đức Kitô. Đối với chúng ta khi nghe Tin Mừng này công bố trong Thánh Lễ, mục đích của đoạn Phúc âm này là để khuyến khích chúng ta không chỉ kiên trì trong việc hãm mình và khổ hạnh của Mùa Chay cho đến khi chúng ta qua việc cử hành nghi thức Phụng vụ, cảm nghiệm được cuộc khải hoàn của Chúa Kitô trong Lễ Phục Sinh. Nhưng còn là đón nhận những đau khổ của đời sống Kitô hữu cho đến khi thân xác thấp hèn của chúng ta trở nên giống như thân xác vinh quang của Người (Pl 3,21).

Môsê và Êlia từ lâu đã được nhận là các ngôn sứ đại diện cho Luật lệ (Môsê) và cho các sách ngôn sứ (Êlia), hai phần chính của Kinh thánh Do thái giáo thời ấy. Vì vậy, không cần đặt câu hỏi về tính lịch sử của câu chuyện theo nghĩa đen, chúng ta cũng có thể thấy trong đó một ý nghĩa mang tính biểu tượng: đây là Luật lệ và các Tiên tri (Sách Cựu ước và Giao ước cũ) trò chuyện với Chúa Giê-su (sách Tân Ước và Giao ước mới).

Phêrô, luôn háo hức nói hoặc làm điều gì đó – mặc dù không phải lúc nào cũng có sự cân nhắc đầy đủ trước – đã hiểu sai ý nghĩa của ngày hôm nay: Phêrô xem Chúa Giêsu như một trong các vị tiên tri, ngang hàng với “những người vĩ đại” trước đó của lịch sử cứu rỗi, Môsê và Êlia. Do đó, ba “lều” (nghĩa đen là “nhà tạm” của Giao ước cũ), mỗi người một lều.

Phêrô có vài hiểu biết về danh tính của Chúa Giêsu tại thời điểm này nhưng chưa nắm bắt được toàn bộ sự độc nhất của Chúa Giêsu, Đấng là Con Một Thiên Chúa: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Híp-ri 1:1–2). Mặc dù Môsê và Êlia là những nhà tiên tri vĩ đại, nhưng họ không thể nào sánh được với Đấng cuối cùng đã đến.

Trong một Phúc âm khác, một trong các tông đồ đã nhìn thấy Chúa Giêsu biến hình đã nhấn mạnh đến sự độc nhất của Chúa Giêsu với tư cách là Đấng bày tỏ Thiên Chúa Cha cách rõ ràng hơn bất cứ ngôn sứ và những người thánh thiện nào trước đó:

Ngôi Lời đã trở nên người phàm và ngự giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật… Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết (Gioan1:14–18). Khi câu chuyện về Sự Biến Hình tiếp tục, chính Thiên Chúa Cha chỉnh sửa ý tưởng tốt nhưng sai lầm của Phêrô về việc đặt Đức Kitô ngang hàng với các ngôn sứ / tiên tri của Giao Ước Cũ:

[Phêrô] còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

Những lời của Chúa Cha từ đám mây được lặp lại ít nhất hai đoạn văn quan trọng từ Cựu Ước. Đoạn thứ nhất là từ Thánh vịnh 2, bài thánh ca đăng quang hoàng gia, có lẽ được hát khi một người Con trai mới của Đavít tiến đến ngai của vua Đa-vít ở Giê-ru-sa-lem, công bố vinh quang của giao ước Đavít trong câu 7: “Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của CHÚA, Người phán bảo tôi rằng : ‘Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con.’”

Lời của Thiên Chúa Cha nhắc nhở chúng ta Chúa Giêsu là vua của vương quyền Đavít, rằng Người là Đấng thừa kế vương quyền, như các con vua Đavít ngày xưa, vì họ cũng được ban cho đặc ân làm con Thiên Chúa (xem 2 Sam 7:14). Nhưng Chúa Giêsu vượt trội các con trai trước của Đa-vít, bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa không chỉ bởi giao ước mà còn bởi chính bản chất của Ngài.

Thứ hai, khi dùng cụm từ “Con Ta yêu dấu,” Thiên Chúa Cha gợi lại hình ảnh của I-xa-ác trong sách Sáng thế chương 22. Ba lần trong chương đó, I-xa-ác được gọi là ben yahid, của Áp-ra-ham, “con duy nhất”. Bản Septuagint (Bản 70) dịch là huios agapetos, “con trai yêu dấu.” Cụm từ này nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu là I-xa-ác mới, giống như I-xa-ác trong sách Sáng thế chương 22, ông vác củi trên vai lên núi để hiến dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa, vâng phục ý của cha mình. Núi Biến Hình vì thế, hướng về Núi Sọ.

Sự độc nhất vô nhị của Chúa Giêsu với tư cách là Đấng Trung Gian giữa Chúa Cha và nhân loại được nhấn mạnh lần cuối bởi việc sau khi ngã sấp xuống đất, các môn đệ ngước mắt lên và “không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi”. Người Con Một và duy nhất là Đấng Trung gian độc nhất vô nhị, không ai có thể thay thế

Sự Biến Hình cũng được liên kết với chủ đề “cuộc hành trình” mà chúng ta đã quan sát trong các bài đọc khác, mặc dù chúng ta phải mượn từ trình thuật của Luca để thấy được mối liên hệ. Trong Lu-ca 9:31, Thánh Lu-ca chỉ rõ rằng Môsê và Êlia đang thảo luận với Chúa Giê-su về cuộc “xuất hành” sắp tới của Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Ngay ngày hôm sau, Chúa Giê-su nói với các môn đồ về Cuộc khổ nạn sắp tới của ngài (Luca 9:44), và ngay sau đó Ngài “hướng về Giê-ru-sa-lem” (9:51) và bắt đầu cuộc hành trình cuối cùng của Ngài. Do đó, Lu-ca chương 10–19 (nói chung) được các học giả gọi là “Bản tường thuật về hành trình” bởi vì trong suốt thời gian này, Chúa Giêsu đang hành trình từ Ga-li-lê về phía nam, đến Giê-ru-sa-lem để thực hiện “cuộc xuất hành” của Ngài.

Trong thời gian còn lại của Mùa Chay, chúng ta cùng với Chúa Giêsu trong cuộc hành trình cuối cùng của Người tiến về đau khổ, nhục nhã, cái chết… nhưng cuối cùng là vinh quang. Tuần này chúng ta hãy tự khích lệ mình với ý nghĩ rằng Chúa Giêsu biến hình là hình ảnh vinh quang của sự thánh thiện đang chờ đợi chúng ta vào cuối Mùa Chay và cuối hành trình của cuộc đời. Miễn là chúng ta sẵn sàng chấp nhận những khó khăn cần thiết, để sự thánh thiện phát triển trong cuộc đời chúng ta. -- Dr. John Bergsma