Vì được dìm vào trong cái chết của Đức Ki-tô, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6,3-4;8-11)
Điểm mà Thánh Phaolô muốn nói trong bài thánh thư hôm nay không phải là điều dễ hiểu và dễ chấp nhận. Điều đó có thể khiến chúng ta ngạc nhiên, thậm chí sửng sốt. Đó là: đức tin Kitô giáo, đời sống Kitô hữu, không chỉ là một cách sống mà còn là một cách chết; không đơn thuần là một sự bổ sung tích cực vào đời sống tự nhiên của con người, như đặt thêm một lớp kem trên chiếc bánh, nhưng còn là một sự chết cũng như một cuộc sinh hạ mới.
Có hai sai lầm chúng ta có thể mắc phải: hoặc phủ nhận phần “chết”, hoặc phủ nhận phần “sinh”; hoặc quá lạc quan đến mức nghĩ rằng phần “chết” chỉ là một sự bổ sung tích cực, không phải trả giá gì; hoặc quá bi quan đến mức nghĩ rằng phần “sống” chỉ là một điều tiêu cực, một danh sách những điều cấm đoán.
Khi Thánh Phaolô nói về “sự sống”, ngài không có ý nói đến một lối sống, một hệ giá trị, luật lệ hay thực hành. Đó là một từ cụ thể hơn nhiều. Nó giống như sự khác biệt giữa một người sống và một xác chết. Thật sự đó là vấn đề giữa sự sống và sự chết.
Để hiểu điều này, chúng ta cần suy nghĩ thật nghiêm túc. Điều đó sẽ không dễ dàng.
Trong Tân Ước bản tiếng Hy Lạp, có hai từ chỉ “sự sống”: bios và zoe. Bios có nghĩa là sự sống tự nhiên, còn zoe là sự sống siêu nhiên. Bios là sự sống trong thời gian mà chúng ta nhận được từ cha mẹ và tổ tiên, bắt đầu từ Ađam; còn zoe là sự sống đời đời mà chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.
Sự sống tự nhiên của con người bao gồm thân xác và linh hồn. Thân xác tự nhiên là khả tử, theo bản tính sẽ phải chết. Còn bản chất linh hồn con người thì vị kỷ. Trẻ sơ sinh không được sinh ra như các vị thánh. Các em tìm kiếm khoái lạc và quyền lực cho riêng mình; yêu bản thân trước khi yêu Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế chúng ta phải giáo dục và hướng dẫn các em sống trong xã hội.
Một từ khác mà Thánh Phaolô dùng để chỉ đời sống ấy là sarx, theo truyền thống được dịch là “xác thịt”. Từ này không chỉ có nghĩa là thân xác đối lập với linh hồn, mà là toàn bộ bản tính nhân loại mà chúng ta sinh ra đã có: linh hồn vị kỷ cũng như thân xác phải chết. Ngược lại, loại sự sống kia, zoe, là sự sống tràn đầy agape — tình yêu vô vị lợi, hay còn gọi là đức ái.
Tất cả chúng ta đều có một người cha theo bản tính xác thịt, một người cha trần thế; nhưng chúng ta cũng cần có một Người Cha siêu nhiên, một Người Cha trên trời. Chúng ta không nhận được điều đó từ cha mẹ mình. Thiên Chúa không có cháu; chúng ta không nhận được sự sống của Ngài một cách gián tiếp qua cha mẹ. Chúng ta nhận được sự sống ấy qua chính Bí tích Rửa Tội của mình và qua đức tin đón nhận Bí tích ấy — dù đức tin đến sau Bí tích Rửa Tội, như nơi đa số chúng ta được rửa tội khi còn thơ ấu, hay đức tin đến trước Bí tích Rửa Tội, như nơi những người trưởng thành trở lại đạo.
Tóm lại: Thánh Phaolô dạy rằng trở thành Kitô hữu không chỉ là sống tốt hơn, mà là chết đi cho con người cũ đầy ích kỷ (sarx) để được sinh ra vào sự sống mới của Thiên Chúa (zoe), một sự sống của tình yêu và đức ái.
Sự sống mới (zoe) mà chúng ta nhận được từ Thiên Chúa trong Bí tích Rửa Tội không chỉ là một lối sống mới hay một hệ giá trị mới; đó là một sự sống mới, gần như một linh hồn mới. Thánh Phaolô gọi sự sống mới mà chúng ta nhận được từ Thiên Chúa là một bản tính mới và là “con người mới”, đối nghịch với “bản tính cũ” hay “con người cũ” mà chúng ta nhận được từ Ađam và từ cha mẹ mình.
Các nhà thần học dùng nhiều tên gọi khác nhau cho sự sống siêu nhiên này: ân sủng thánh hóa, sự sống đời đời, ơn cứu độ, sự thần hóa (được tham dự vào bản tính Thiên Chúa), Nước Trời, Nước Thiên Chúa, sự tái sinh, được sinh lại, được nên công chính, được thánh hóa, và tình trạng ân sủng. Tất cả những tên gọi này đều dựa trên các bản văn Kinh Thánh.
Các nhà thần học cũng dùng nhiều tên gọi khác nhau, cũng dựa trên Kinh Thánh, để chỉ những người có được sự sống zoe này: những người được cứu độ, những người được tuyển chọn, những người được chúc phúc, Thành Đô Thiên Chúa, con cái Thiên Chúa, những người được sinh ra lần thứ hai, những người được tái sinh, các môn đệ, các tín hữu, và những người “ở trong” Đức Kitô hoặc Đức Kitô “ở trong” họ. Những thuật ngữ khác nhau này chỉ là những khía cạnh khác nhau của cùng một thực tại.
Bí tích Rửa Tội ban cho chúng ta zoe. Nhưng Bí tích Rửa Tội không hủy bỏ bios (sự sống tự nhiên). Sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta có hai loại sự sống: bios và zoe. Hai loại sự sống này đấu tranh với nhau trong chính chúng ta. Đó là điều Thánh Phaolô muốn nói khi ngài viết: “Xác thịt thì ước muốn những điều chống lại Thần Khí, còn Thần Khí lại chống lại xác thịt” (Gl 5,17).
Hãy nhớ rằng “xác thịt” và “Thần Khí” không có nghĩa là “thân xác” và “linh hồn”. Từ Hy Lạp chỉ “thân xác” và “linh hồn” là soma và psyche, trong khi từ Hy Lạp chỉ “xác thịt” và “Thần Khí” là sarx và pneuma. Khi Thánh Phaolô đặt “xác thịt” đối nghịch với “Thần Khí”, chữ “Thần Khí” cần được viết hoa vì không phải chỉ chúng ta hay linh hồn của chúng ta, nhưng là chính Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Thiên Chúa, bởi vì chính Ngài là Đấng thông ban zoe, sự sống thần linh, vào trong chúng ta.
Thân xác và linh hồn gắn bó với nhau còn mật thiết hơn cả bạn hữu; chúng là hai chiều kích của cùng một thực tại, giống như lời văn và ý nghĩa của một cuốn sách, hoặc như những âm thanh vật lý và vẻ đẹp tinh thần của một bản nhạc.
Nhưng xác thịt và Thần Khí lại là kẻ thù của nhau, như bóng tối và ánh sáng, như sự son sẻ và việc mang thai, như tính ích kỷ và lòng vị tha.
Khi Thánh Phaolô liệt kê các “công việc của xác thịt” trong thư gửi tín hữu Galát chương 5, ngài kể ra tám tội thuộc đời sống tinh thần (“thờ ngẫu tượng, phù phép, hận thù, tranh chấp, ghen tương, nóng giận, ích kỷ, bất hòa, bè phái”) cũng như sáu tội thuộc đời sống thể xác (“dâm ô, ô uế, trụy lạc… ganh tị, chè chén say sưa, tiệc tùng phóng đãng và những điều tương tự”). Nhưng khi Thánh Giacôbê nói: “Cũng như thân xác không có linh hồn là thân xác chết, thì đức tin không có việc làm cũng là đức tin chết” (Gc 2,26), ngài đặt “linh hồn” song song với “việc làm”, tức những hành động của thân xác, chứ không phải với “đức tin”, vốn là hành động của linh hồn.
Những công việc của Thần Khí, tức những việc được Chúa Thánh Thần thúc đẩy và đẹp lòng Thiên Chúa, theo Thánh Giacôbê, không chỉ là những việc thiêng liêng mà còn là những hành động cụ thể: “Lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa là thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn gian truân của họ và giữ mình khỏi những ô uế của thế gian” (Gc 1,27).
Bây giờ, với tất cả những nền tảng thần học đó trong tâm trí, chúng ta hãy nhìn vào điều Thánh Phaolô nói trong bài thư hôm nay. Tại sao ngài nói những người được thanh tẩy bằng Bí tích Rửa Tội thì đã chết theo một cách nào đó? Bởi vì chúng ta chết đi đối với lối sống theo xác thịt, đối với con người cũ được hình thành bởi tội nguyên tổ, và được sinh ra trong một đời sống mới, hay được “tái sinh” nhờ Chúa Thánh Thần. Đó là cái chết đối với căn tính cũ chỉ dựa trên bios (sự sống tự nhiên), và là sự khai sinh của căn tính mới dựa trên zoe (sự sống thần linh).
Bí tích Rửa Tội, cũng như mọi bí tích khác, thực hiện điều mà nó tượng trưng và tượng trưng điều mà nó thực hiện. Điều nó thực hiện vừa là một cái chết vừa là một sự sinh ra. Vì thế hình thức biểu tượng đầy đủ nhất của Bí tích Rửa Tội là được dìm hoàn toàn trong nước, như thể bị chết đuối. Thật vậy, từ Hy Lạp chỉ “rửa tội” theo nghĩa đen có nghĩa là “nhấn chìm”, giống như một con tàu chìm xuống nước.
Thánh Phaolô nói rằng chúng ta được nhấn chìm vào trong cái chết của Đức Kitô để chúng ta cũng được sống lại với Người. Sự sống cũ, tức bios, vẫn còn đó, nhưng nó không còn là nguồn gốc căn tính của chúng ta và cũng không còn là chủ tể của cuộc đời chúng ta nữa. Nó giống như một vật cũ kỹ đã chết mà chúng ta vẫn còn phải mang theo. Người Rôma cổ đại đôi khi trừng phạt kẻ sát nhân bằng cách xích xác đang thối rữa của nạn nhân vào thân thể họ rồi vứt chìa khóa đi. (Đó vừa là một hình phạt rất tàn nhẫn vừa rất thâm độc.)
Thánh Phaolô nói rằng chúng ta đã “chết đối với tội lỗi”, vốn là biểu hiện tự nhiên của đời sống cũ với tính ích kỷ vốn có của nó (điều mà Freud gọi là “nguyên tắc khoái lạc”). Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là từ nay chúng ta không bao giờ phạm tội nữa. Bản tính cũ vẫn còn đó và gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta đã chết đối với nó; nó không còn là căn tính, ý nghĩa, khát vọng sâu xa nhất, thần tượng, chúa tể hay chủ nhân của chúng ta nữa. Nhưng chính Đức Kitô đã trở thành tất cả những điều ấy.
Điều này vừa giải thoát vừa khiến chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ: vì giờ đây chúng ta đang “ở trong Đức Kitô” và Đức Kitô ở trong chúng ta nhờ đức tin và Bí tích Rửa Tội, nên mỗi khi chúng ta phạm tội, chúng ta phạm tội bằng chính một con người đã được thánh hiến. Thực vậy, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô nói rằng khi một Kitô hữu phạm tội ngoại tình, người ấy làm cho Đức Kitô trở thành kẻ ngoại tình. Khi người Kitô hữu phạm tội, họ không chỉ phạm đến Đức Kitô ở bên ngoài mình mà còn phạm đến Đức Kitô đang ở trong mình, tức sự tham dự vào sự sống thần linh của Người, sự sống zoe mà họ đã nhận được khi lãnh Bí tích Rửa Tội.
Trong Đức Kitô, chúng ta không chỉ có một lối sống mới mà còn có một sự sống mới. Lối sống của chúng ta phải phản ánh sự sống ấy chứ không được mâu thuẫn với nó. Vì chưng, chúng ta là con cái của Thiên Chúa và là anh chị em của Chúa Giêsu. --Dr. Peter Kreeft

0 Nhận xét