Tại sao chúng ta sợ chết? Chúa Giêsu Phục sinh đã tiêu diệt tử thần

Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết. Người đã sống lại. Người đã bước xuyên qua cánh cửa của tử thần và sống lại từ cõi chết: “Đừng sợ ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời ; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ. (Khải huyền 12:17-18)

Phần chúng ta, tại sao chúng ta sợ chết? Có ba lý do.

Thứ nhất, chết là điều chưa ai bên thế giới này biết đến. Nhưng Chúa Kitô đã cho chúng ta hiểu biết về nó. Giờ đây, chúng ta không còn nhìn cái chết như một cánh cửa tối tăm, mà là một cánh cửa sáng chói. Cái chết dẫn đến sự phục sinh, dẫn lên trời, chứ không phải xuống lòng đất.

Thứ hai, trong cái chết, chúng ta dường như mất hết mọi thứ—mất sự sống, ánh sáng và tình yêu của cuộc sống. Mọi thứ dường như bị cuốn trôi đi trong cái chết. Nhưng Chúa Kitô đã mở ra cánh cửa tối tăm ấy đến với ánh sáng, đến với sự sống, ánh sáng và tình yêu vĩ đại hơn nữa – ba điều chúng ta khao khát nhất.

Lý do thứ ba là nghiêm trọng nhất. Chúng ta sợ chết vì chúng ta sợ phán xét công minh trong ngày sau hết. Vì chúng ta biết mình là tội nhân, xứng đáng chịu hình phạt. Nhưng Chúa Kitô đã gánh lấy hình phạt ấy thay cho chúng ta. Người đã đổi chỗ với chúng ta: chúng ta nhận được điều Người đáng được nhận, còn Người chịu điều chúng ta đáng chịu. Đó là cuộc trao đổi vĩ đại: Mạng sống của Thầy đổi lấy mạng sống của con.

Chúa Kitô đã hoàn toàn thay đổi ý nghĩa của cái chết. Thánh Phaolô, khi nói về những hoa quả của sự Phục Sinh của Chúa Giêsu trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 15 – một trong những đoạn Kinh Thánh mạnh mẽ và hùng hồn nhất – đã dùng hình ảnh ngòi độc của con ong. Phaolô chế giễu cái chết như một con ong không còn nọc độc. Ngài nói: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? / Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? / Nọc độc của sự chết là tội lỗi… Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 15, 55–57).

Cái chết bây giờ như con ong đã bị rút nọc, vì Chúa Kitô đã chịu uống chén độc của nó để cứu chúng ta khỏi nó.

Hình ảnh cái nọc độc và con ong cũng diễn tả cùng một chân lý như hình ảnh cánh cửa và chiếc chìa khóa. Điểm chính là: Chúa Kitô đã thay đổi tất cả cho chúng ta – cả sự sống lẫn sự chết. “Này đây, Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5), Người nói trong sách Khải Huyền. Và cũng trong sách ấy, Người phán rằng đây là lời của “Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng nắm giữ chìa khóa của Đavít, Đấng mở ra thì không ai đóng lại, đóng lại thì không ai mở ra” (Kh 3,7). -- Dr. Peter Kreeft

Bí tích Hoà Giải: ơn tha tội và sự bình an

Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Gioan 20:22-23)

Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Công Chính. (1 Gioan 2:1-2)

Chúa đã phải một giá rất đắt cho ơn tha tội và sự bình an mà Chúa Phục sinh ban cho chúng ta: mạng sống Chúa Kitô thay thế cho mạng sống của chúng ta. Và Chúa biết chúng ta sẽ sa ngã nhưng Chúa muốn chúng ta tiếp tục lãnh nhận sự bình an của Ngài nên đã thiết lập chức vụ linh mục và Bí tích Hoà Giải.

“Khi chúng ta phạm tội, chúng ta đã đóng cửa thiên đàng và mở cửa hỏa ngục. Khi Chúa Kitô chịu chết vì tội lỗi chúng ta và sống lại vì ơn cứu độ chúng ta, Người đã mở cửa thiên đàng và đóng lại cửa hỏa ngục.

Chúa Giêsu cũng dùng chính hình ảnh cánh cửa mở và cửa đóng này: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ tội ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,23).

Quyền tháo và buộc, quyền mở và đóng cửa trời, quyền hòa giải con người với Thiên Chúa, chỉ một mình Chúa Giêsu nắm trong tay, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Người Do Thái đã nói đúng khi họ nghe Chúa Giêsu tha tội: “Ai có quyền tha tội ngoài Thiên Chúa?” (Mc 2,7). Nếu Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa, thì lời tuyên bố ấy là một sự phạm thượng, đáng bị kết án tử hình.

Nhưng Đức Giêsu là Thiên Chúa và Người đã trao quyền tha tội cho các Tông Đồ; Chúa đã thiết lập Bí tích Hòa Giải.

Trước khi bước vào tòa giải tội, tội lỗi của chúng ta chưa được tha; nhưng khi bước ra, chúng đã được tha. Mối tương quan của ta với Thiên Chúa thực sự thay đổi trong không gian nhỏ hẹp ấy. Ađam bước vào, và Giêsu bước ra. Ma quỷ ghét và sợ nơi ấy. Những lời tha tội mà linh mục đọc không chỉ là lời loài người, mà là lời của Thiên Chúa, là lời hứa thần linh, có sức mạnh thật sự để tha tội, vì chính Chúa đã trao quyền ấy cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài. Chỉ tác giả mới có quyền bổ nhiệm người kế vị, và chỉ những người kế vị ấy mới có thể trao quyền cho người kế vị kế tiếp, qua “chuỗi kế vị Tông Truyền” trong bí tích Truyền Chức Thánh.

Bạn biết mình được tha tội khi xưng tội với một linh mục Công giáo, không phải vì linh mục ấy thánh thiện, hay vì bạn xứng đáng, mà vì Chúa Giêsu là Đấng Thánh thiện và quyền năng để làm những điều Người đã hứa. Lời của Thiên Chúa là chân thật. Thiên Chúa không thể nói dối.” -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Thiên Chúa không ngừng theo đuổi: Con ơi, hãy về với Ta

Một người phụ nữ từng viết thư cho tôi về người anh trai của cô, nói rằng anh ta đang hấp hối trong bệnh viện và đã không lãnh nhận bí tích nào khoảng ba mươi năm. Cô nói không chỉ là một người tội lỗi, anh còn là một người xấu xa. Có sự khác biệt giữa người xấu và người ác. Người xấu có thể trộm cắp; người xấu có thể giết người. Nhưng một người ác có thể không làm những điều đó, mà lại tìm cách hủy diệt sự thiện nơi người khác. Người đàn ông này là một kẻ như thế. Anh ta đã làm nhiều điều để làm băng hoại giới trẻ và phát tán đủ loại tài liệu đồi bại nhằm phá hủy đức tin và đạo đức.

Người em gái của anh ấy viết: “Khoảng hai mươi linh mục đã đến gặp anh ấy, nhưng anh đều đuổi họ ra khỏi phòng bệnh. Cha có thể gặp anh ấy không?” Tôi trở thành Sheen, “giải pháp cuối cùng.”

Tối hôm đó tôi đến thăm ông ấy, và chỉ ở lại khoảng năm giây vì tôi biết mình cũng sẽ không khá hơn ai. Nhưng thay vì bỏ cuộc, tôi quyết định trở lại – không chỉ một lần, mà là bốn mươi lần. Suốt bốn mươi đêm liền tôi đến thăm người đàn ông này. Đêm thứ hai tôi ở lại khoảng mười đến mười lăm giây, rồi mỗi đêm tăng thêm năm đến mười giây, và đến cuối tháng, tôi đã có thể ở bên ông ta mười đến mười lăm phút. Nhưng tôi chưa bao giờ nhắc đến chuyện đời sống thiêng liêng của ông ấy—cho đến đêm thứ bốn mươi.

Đêm thứ bốn mươi, tôi mang theo Mình Thánh Chúa và Dầu Thánh, và tôi nói với ông: “William, anh sẽ qua đời đêm nay.”

Ông ấy nói: “Tôi biết.”

Ông đang chết vì ung thư, nhưng là ung thư mặt, một trong những nỗi đau thể xác và tinh thần khủng khiếp nhất mà bạn có thể tưởng tượng.

Tôi nói: “Tôi chắc rằng anh muốn làm hòa với Chúa đêm nay.”

Ông ta đáp: “Tôi không muốn! Hãy cút đi!”

Tôi nói: “Tôi không đến đây một mình.”

Ông hỏi: “Ai đi với ông?”

Tôi nói: “Tôi mang theo Chúa đây. Anh cũng muốn Ngài đi ra sao?”

Ông không nói lời nào. Thế là tôi quỳ bên cạnh giường ông khoảng mười lăm phút, vì tôi mang theo Mình Thánh Chúa. Tôi hứa với Chúa rằng nếu người đàn ông này tỏ dấu hiệu ăn năn trước khi chết, tôi sẽ xây một nhà nguyện ở miền Nam nước Mỹ cho người nghèo, một nhà nguyện trị giá 3.500 đô la. Không phải nhà nguyện lớn, nhưng đó là khoản tiền rất lớn đối với tôi.

Sau lời cầu nguyện, tôi lại nói: “William, tôi chắc rằng anh muốn làm hòa với Chúa trước khi chết.”

Ông ấy đáp: “Tôi không muốn! Cút khỏi đây!”

Rồi ông bắt đầu la hét gọi y tá. Để ông không la hét nữa, tôi chạy ra cửa như thể tôi sẽ rời ông, rồi nhanh chóng quay lại, áp mặt mình xuống gần mặt ông trên gối và nói: “Chỉ một điều thôi, William. Trước khi anh chết đêm nay, hãy hứa với tôi rằng anh sẽ nói, ‘Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.’”

Ông ấy nói: “Tôi sẽ không! Cút ra khỏi đây!”

Tôi phải rời nơi đó. Tôi nói với y tá rằng nếu ông ấy cần tôi trong đêm, cứ gọi. Khoảng bốn giờ sáng, y tá gọi cho tôi và nói, “Ông ấy vừa mất.”

Tôi hỏi, “Ông ấy mất như thế nào?”

Bà ấy nói, “Khoảng một phút sau khi cha ra khỏi đó, ông ấy bắt đầu nói, ‘Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con,’ và không ngừng nói câu đó cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.”

Bạn thấy đấy, tôi không hề có chút ảnh hưởng nào trên linh hồn ông ấy. Đây là một cuộc viếng thăm từ Thiên Chúa – một cuộc xâm nhập thần linh từ bên ngoài. Dù một người còn giữ đức tin hay không, điều ấy không làm giới hạn quyền năng của Thiên Chúa. Luôn luôn có khả thể cho một cuộc can thiệp nhiệm mầu từ Thiên Chúa.

Hồng ân đó thường đến nhẹ nhàng như một làn gió, đến nỗi con người không nhận ra – thậm chí còn khước từ. Hãy nhớ lại Thánh Âu-tinh: ơn hoán cải đến với ngài qua tiếng hát vô tình của một đứa trẻ khi ngài đang lạc lối giữa cuộc đời hoang đàng. Sau đó, vị tiến sĩ Hội Thánh đã viết nên những lời bất hủ:

“Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa và tâm hồn con luôn khắc khoải cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa” (Tự thuật I, 1, 1).

Charles de Foucauld, một kẻ trăng hoa khét tiếng, từng sống buông thả giữa những cuộc phiêu lưu xa hoa, lại tìm thấy ánh sáng ân sủng dưới bầu trời sa mạc Sahara. Nơi ấy, giữa đêm tĩnh mịch, ông chịu đựng điều mà nhà thơ Francis Thompson gọi là “sự tra vấn không ngượng ngùng của mỗi ngôi sao.” Chính tại đó, ân sủng chạm đến ông. Ông trở lại, trở nên linh mục, sống giữa những người Hồi giáo nơi hoang địa, và cuối cùng, hiến dâng mạng sống như một vị tử đạo. -- ĐTGM Fulton Sheen, Your Life Is Worth Living

Nếu chẳng may bị vấp ngã

Bạn muốn thoát khỏi sự ràng buộc của việc nghiện điện thoại? Rèn Luyện: 33 ngày hướng tới tự do đưa ra một chương trình để bạn có để từng bước một chiếm lại sự tự chủ.

Nếu chẳng may bị vấp ngã, hãy đứng dậy ngay. Với sự trợ giúp không bao giờ thiếu của Thiên Chúa khi các phương thế thích hợp được sử dụng, chúng ta hãy mau chóng sám hối cách chân thành và khiêm tốn, rồi sửa sai; như thế, sự vấp ngã nhất thời của ta sẽ được biến đổi thành chiến thắng rạng ngời của Đức Giêsu Kitô.

… Chúng ta còn phải lấp đầy thời giờ bằng các công việc được làm cách nhiệt tình và đầy trách nhiệm, nơi đó chúng ta tìm kiếm sự hiện diện của Chúa, vì chúng ta không bao giờ được phép quên rằng mình được cứu chuộc bằng một giá vĩ đại và chúng ta là đền thờ của Thánh Thần.

Tôi còn cần khuyên các bạn điều gì nữa đây? Vâng, đơn giản hãy làm những gì mà người Kitô hữu thật sự bước theo Chúa Giêsu luôn thực hiện, và sử dụng những phương thế mà các Kitô hữu đầu tiên đã sử dụng, khi được thôi thúc bước theo Chúa Giêsu: phát triển mối tương quan mật thiết với Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chạy đến Đức Trinh Nữ như một đứa trẻ, khiêm nhu, điều độ, hãm mình về ngũ quan (Thánh Grêgôriô Cả đã cảnh báo: “Không nên nhìn những gì không đáng ao ước”) và sám hối.

Các bạn có thể bảo rằng hết thảy những điều trên chẳng khác gì một bản tóm tắt cả đời sống Kitô hữu. Quả thực, đức thanh khiết – chính là tình yêu – không thể tách rời khỏi điều cốt yếu của đức tin là bác ái, là không ngừng yêu Chúa, Đấng đã dựng nên và cứu chuộc chúng ta, và luôn nắm tay chúng ta, dù biết bao lần chúng ta thậm chí chẳng màng đến điều đó. Người không thể bỏ rơi chúng ta. “Sion từng nói: Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng đã quên tôi rồi!′ Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên người bao giờ.” Những lời đó không làm bạn tràn ngập niềm vui sao? – Thánh Josemaria Escriva, Bạn của Chúa

Cô Dâu Đầu Tiên Được Tạo Dựng Từ Cạnh Sườn của Ađam

Dưới ánh sáng của Kinh Thánh và truyền thống Do Thái cổ xưa, khi chúng ta nhìn vào cạnh sườn của Chúa Giêsu bị đâm thâu, chúng ta có thể thấy sự tương đồng giữa máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Ngài và câu chuyện Kinh Thánh về việc Thiên Chúa lấy thịt từ cạnh sườn của Ađam trong Vườn Địa Đàng:

“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói :“Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.” Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt. (Sáng Thế 2:21–24)

... Và cũng như việc tạo dựng kỳ diệu người vợ đầu tiên từ cạnh sườn của Ađam là nền tảng cho hôn nhân giữa người nam và người nữ, thì máu và nước kỳ diệu từ cạnh sườn của Chúa Giêsu cũng là nguồn gốc và nền tảng cho sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.

Theo lời của Thánh Augustinô, người đã nhận ra sự tương đồng này từ nhiều thế kỷ trước:

“[Trong] hai con người đầu tiên đó… đã được tiên báo hôn nhân giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.… Cũng như Ađam là hình bóng của Chúa Kitô, thì Evà được tạo dựng từ Ađam đang ngủ cũng là hình ảnh tiên trưng cho việc Hội Thánh được tạo dựng từ cạnh sườn của Chúa khi Ngài ngủ, bởi khi Ngài chịu khổ nạn và chết trên thập giá, và bị lưỡi giáo đâm thâu, các bí tích đã chảy ra từ Ngài để hình thành Hội Thánh. Giấc ngủ của Chúa Kitô cũng chính là cuộc thương khó của Ngài.… Như Evà được lấy ra từ cạnh sườn của Ađam đang ngủ, thì Hội Thánh cũng được sinh ra từ cạnh sườn của Chúa Kitô chịu đau khổ.” (Exposition of the Psalms 138:2)

Nói cách khác, cũng như Evà nhận được sự sống từ món quà kỳ diệu là thân thể của Ađam,  tân lang đầu tiên,  thì Hội Thánh, Hiền Thê của Chúa Giêsu, cũng nhận được sự sống nhờ hai ân ban: “nước hằng sống” của Chúa Thánh Thần trong bí tích Rửa Tội và “máu ban sự sống” của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Và cũng như sự sống tự nhiên được trao ban cho Evà – và qua Evà đến với toàn thể nhân loại, từ cạnh sườn của Ađam, thì sự sống siêu nhiên được ban cho Hội Thánh nhờ nước và máu từ cạnh sườn của Đức Kitô, Vị Lang Quân. – Dr. Brant Pitre, Jesus the Bridegroom: The Greatest Love Story Ever Told

Hành trình thiêng liêng của Mùa Chay

Một hôm một ý tưởng đến với mình. Mùa Chay có thể được nhìn thấy như một tóm tắt hành trình thiêng liêng của chúng ta. Con đường trở về Nhà Cha được một truyền thống chia ra thành ba phần: thanh luyện, khai sáng và kết hợp.

- Bắt đầu Mùa Chay, chúng ta được mời gọi để từ bỏ con đường tội lỗi, để nhận ra những hứa hẹn của tội đều là hảo huyền và còn tệ hơn là hảo huyền: muốn ăn thứ heo ăn mà không có để ăn (heo đối với người Do thái là giống súc vật bị coi là dơ bẩn và chỉ người không thuộc về Do Thái giáo chăn nuôi chúng). Tội giảm giá trị con người xuống còn tệ hơn súc vật.

- Giữa Mùa Chay năm nay, chúng ta đọc dụ ngôn Người Con Hoang Đàng hay còn được gọi là dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu vào Chúa Nhật thứ IV Mùa Chay. Trong dụ ngôn, người con bắt đầu ý thức mối quan hệ của anh với cha mình. Vì ở dưới ảnh hưởng của tội, anh nghĩ mình chỉ là tên đầy tớ.

Dụ ngôn cho thấy, sau khi tháo gỡ lăng kính của tội, chúng ta nhìn thấy rõ ràng hơn tội mình làm đau lòng Cha mình dường nào. Tôi thật là kẻ bất hiếu chỉ đáng làm tôi tớ mà thôi.

Chúng ta đã không sống đúng với Giao ước của bí tích Rửa tội: tôi là con cái trong Gia đình Thiên Chúa và chỉ phụng thờ, vâng lời một mình Thiên Chúa mà thôi. Bài đọc Phúc âm trong lễ hằng ngày của Mùa Chay, mời gọi chúng ta nhận ra Thiên Chúa Cha luôn giữ lời hứa Giao ước. Ngài yêu thương chúng ta đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Đấng Mêsia Ngài gửi đến sẽ được cứu độ. Hãy tin vào Chúa Kitô.

- Hôm nay chúng ta bước vào Tuần Thánh và đặc biệt là Tam Nhật Phục Sinh. Trọng tâm của tuần này không còn là chúng ta nữa. Trọng tâm của tuần này là TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA được bày tỏ qua cuộc thương khó của Chúa Giêsu, qua cái chết và phục sinh của Ngài.

Trong Tam Nhật Vượt Qua, chúng ta nhìn thấy Nước và Máu chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu. Nước rửa sạch, nước trong lành để chúng ta không còn phải uống nước đục bẩn, không còn khát nữa. Máu Chúa Giêsu đổ ra tràn đầy để dưỡng nuôi chúng ta, để thân xác hèn yếu này khi chết đi, có hạt giống phục sinh của thân xác vinh quang trong mình. Chúng ta cũng sẽ được phục sinh với thân xác vinh quang cho trời mới đất mới mà Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho chúng ta.

Vậy nếu bạn chưa xưng tội, đừng chần chờ để lãnh nhận hoa quả của Cây Sự Sống trong Lễ Phục Sinh năm nay, hầu có nơi mình sự sống đời đời. Khi bạn trải nghiệm cuộc vượt qua cuối cùng của đời mình bạn sẽ có khả năng sống trong trời mới đất mới, nơi của hạnh phúc vĩnh cửu, sự sống tràn đầy.

Hãy nhớ, kế hoạch của Thiên Chúa thì luôn là tốt lành

Thiên Chúa biết những gì là tốt nhất cho bạn và biết cả những gì bạn thích nhất. Ngài nói với Giêrêmia, “Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi, kế hoạch thịnh vượng chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng” (Gr 29, 11). Giuse đã hiểu chân lý này khi nói với các anh em ông là những người đã bán ông làm nô lệ, “Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt” (St 50, 20). Vua Hezekiah cũng bày tỏ cảm nhận này trong căn bệnh đã đe dọa tính mạng ông, “Nay muôn vàn cay đắng đã hoá nên an bình, vì chính Ngài đã cứu con khỏi hố diệt vong” (Is 38, 17). Khi Ngài nói không trước lời kêu cầu của bạn, hãy nhớ, “Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Ngài” (Dt 12, 10b).

Thật là sống còn khi bạn biết tập trung vào kế hoạch của Thiên Chúa chứ không tập trung vào đau khổ hoặc biến cố. Đó là cách Đức Giêsu đã đón nhận trên thập giá và chúng ta được thúc giục noi gương Ngài: “Mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Ngài đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng hề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Dt 12, 2). Corrie Ten Boom, người đã khổ đau trong trại tù của Đức quốc xã, giải thích sức mạnh của sự tập trung như sau: “Nếu nhìn vào thế giới, bạn sẽ đau buồn; nếu nhìn vào bản thân, bạn sẽ chán nản. Nhưng nếu nhìn vào Đức Kitô, bạn sẽ được yên nghỉ!” Sự tập trung của bạn sẽ xác định cảm xúc của bạn. Bí quyết để chịu đựng là hãy nhớ rằng, khổ đau chỉ là tạm thời nhưng phần thưởng của bạn sẽ là đời đời. Moisen chịu đựng một cuộc đời đầy cam go vì ông “mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời” (Dt 11, 26). Thánh Phaolô trải qua những khốn khổ cùng một cách thức đó. Ngài nói, “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2Cr 4, 17).

Đừng suy nghĩ thiển cận. Cứ tập trung vào thành quả sau cùng:

“Vì một khi cùng chịu đau khổ với Ngài, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài. Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8, 17b-18).

Hãy hân hoan và dâng lời tạ ơn. Kinh Thánh nói với chúng ta, “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1Tx 5, 18). Làm sao có thể tạ ơn được? Hãy lưu ý, Thiên Chúa bảo chúng ta tạ ơn “trong mọi hoàn cảnh” chứ không “cho mọi hoàn cảnh”. Ngài không mong bạn biết ơn đối với tội ác, tội lỗi, đau khổ hoặc những hậu quả đau buồn kéo theo trong thế giới. Thay vào đó, Thiên Chúa muốn bạn cám ơn Ngài vì Ngài sẽ dùng mọi biến cố của bạn để hoàn thành những mục đích của Ngài.

Kinh Thánh nói, “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa” (Pl 4, 4). Kinh Thánh không nói, “Anh em hãy vui trên nỗi khổ của mình”. Đó là khoái lạc khổ đau, một ý tưởng bệnh hoạn. Bạn hãy vui “trong Chúa”. Bất luận điều gì đang xảy đến, bạn cũng có thể vui trong tình yêu, trong sự chăm sóc, khôn ngoan, sức mạnh và trong sự trung tín của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói, “Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Lc 6, 23).

Chúng ta cũng có thể vui mừng khi biết rằng, Thiên Chúa đang cùng chúng ta trải qua đau khổ. Chúng ta không phục vụ một Thiên Chúa xa xôi hay phân cách, chỉ đứng bên lề cách an toàn để khích lệ bằng những sáo ngữ. Thay vào đó, Ngài có mặt trong những khốn cùng của chúng ta. Đức Giêsu đã làm điều đó trong mầu nhiệm Nhập Thể và Thánh Thần của Ngài cũng đang thực hiện điều đó trong chúng ta ngay lúc này. Thiên Chúa không bao giờ bỏ mặc chúng ta.

Không bỏ cuộc. Cứ kiên nhẫn và bền chí. Kinh Thánh nói, “Đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chờ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1, 3-4).

Xây dựng nhân cách là một tiến trình tiệm tiến. Bất cứ khi nào chúng ta tìm cách tránh né hay trốn chạy các khó khăn trong cuộc sống là chúng ta làm gián đoạn tiến trình, trì hoãn việc lớn lên và kết thúc với một nỗi đau còn tệ hơn - nỗi đau vô tích sự đồng hành với việc chối từ và tránh né. Hiểu được những hậu quả đời đời của việc phát triển nhân cách, bạn sẽ ít cầu nguyện với lời kinh “Xin an ủi con” (“Xin giúp con chịu đựng hơn”) nhưng sẽ cầu nguyện nhiều hơn với lời kinh “Xin biến đổi con” (“Xin dùng biến cố này để làm con nên giống Chúa hơn”).

Bạn biết mình đang trưởng thành khi bắt đầu cảm nhận bàn tay Thiên Chúa trong những bất ngờ, khoảnh khắc và những hoàn cảnh dường như vô nghĩa trong cuộc sống.

Nếu bạn đang đối đầu với một nghịch cảnh ngay lúc này, đừng hỏi, “Tại sao lại là tôi?”. Thay vào đó, hãy hỏi, “Chúa muốn con rút ra bài học nào?”. Rồi hãy cứ tín thác vào Ngài và quyết tâm làm điều lành. “Anh em cần phải kiên nhẫn, để sau khi thi hành ý Thiên Chúa, anh em được hưởng điều Ngài đã hứa” (Dt 10, 36). Đừng bỏ cuộc - hãy lớn lên!

NGHĨ VỀ MỤC ĐÍCH ĐỜI TÔI

Một điểm để suy tư: Có một mục đích sau mỗi biến cố.

Một câu Kinh Thánh để nhớ: “Chúng ta biết rằng, Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài, tức làm cho những kẻ được Ngài kêu gọi theo như ý Ngài định” (Rm 8, 28).

Một câu hỏi để nghiền ngẫm: Biến cố nào trong cuộc đời tôi đã giúp tôi trưởng thành hơn cả?

-- Trích từ Sống Theo Đúng Mục Đích

12 sự thật thú vị về cuộc đời của Thánh Pier Giorgio Frassati

Chân phước Pier Giorgio Frassati, sinh ngày 6 tháng 4 năm 1901 trong một gia đình giàu có và có tiếng tăm ở Ý, đã trở thành một hình mẫu nổi bật ngay sau khi qua đời vào ngày 4 tháng 7 năm 1925, ở tuổi 24. Ngài sẽ được phong hiển thánh trong năm nay, năm 2025, Năm Thánh Giới Trẻ tại Rome.

Theo trang web dành riêng cho ngài của các giám mục Công giáo Hoa Kỳ, trong nhiều năm qua, Frassati đã trở thành “một đấng bảo trợ toàn cầu quan trọng cho giới trẻ và thanh niên — và có một vị trí đặc biệt trong lòng các bạn trẻ ở Hoa Kỳ.” Thánh GH Gioan Phaolô II đã tuyên bố ngài là đấng bảo trợ cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới và gọi ngài là “người của các mối phúc,” vì ngài đã thể hiện những phúc lành ấy trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Dưới đây là 12 điều thú vị về cuộc đời ngắn ngủi nhưng rất mạnh mẽ của ngài:

1. Mặc dù được nuôi dưỡng trong một gia đình vô thần, nhưng Frassati đã bộc lộ thiên hướng giúp đỡ người khác từ khi còn nhỏ. Một lần, khi còn là một đứa trẻ, ngài mở cửa và gặp một người mẹ đang xin ăn với đứa con không có giày. Ngài đã cởi giày của mình và cho đứa trẻ đó.

2. Ngay từ khi còn trẻ, ngài gia nhập Hiệp hội Thánh Mẫu và Hội Tông đồ Cầu nguyện và được phép nhận Mình Thánh Chúa hàng ngày, điều này là rất hiếm vào thời đó.

3. Cùng lúc đó, ngài nổi tiếng trong nhóm bạn bè là “Il Terrore” (Kẻ Khủng Bố) vì niềm đam mê với những trò đùa tinh nghịch.

4. Khi 17 tuổi, ngài gia nhập Hội Thánh Vincente de Paul và dành phần lớn thời gian rảnh rỗi để chăm sóc những người nghèo, vô gia cư, bệnh tật và những người lính giải ngũ từ Thế chiến I.

5. Năm 1919, Frassati gia nhập Liên minh Sinh viên Công giáo và Đảng Dân chúng, với các nguyên lý dựa trên giáo lý xã hội của Giáo hội. Ngài mạnh mẽ phản đối sự trỗi dậy của lãnh đạo phát xít Benito Mussolini và bị bỏ tù ở Rôma sau khi tham gia cuộc biểu tình của Hiệp hội Công nhân Công giáo.

6. Ngài nổi bật vì luôn trao tặng tất cả những gì mình có cho người nghèo. Ngài thậm chí còn dùng tiền xe buýt của mình để làm từ thiện và sau đó phải chạy về nhà kịp giờ ăn cơm.

7. Là một người đam mê và thành thạo leo núi, ngài đã thấy nhiều điểm tương đồng giữa đời sống Công giáo và sở thích leo núi của mình. Ngài thường xuyên tổ chức các chuyến đi lên núi, tạo cơ hội cầu nguyện và trò chuyện về đức tin trong lúc leo lên hoặc xuống núi.

8. Sau chuyến leo núi mà sau này trở thành chuyến leo núi cuối cùng của ngài, ngài đã viết một ghi chú đơn giản trên một bức ảnh: “Verso L’Alto” (Tới đỉnh cao) — một cụm từ đã trở thành khẩu hiệu Công giáo phổ biến.

9. Khi 24 tuổi, Frassati bị bệnh nặng vì bại liệt (polio). Một số người bạn của ngài tin rằng ngài mắc bệnh từ những người sống trong khu ổ chuột ở Turin. Trong những ngày cuối đời, ngài thì thầm những tên của những người cần giúp đỡ cho gia đình và bạn bè đang tụ tập bên giường bệnh của ngài. Ngài qua đời vào ngày 4 tháng 7 năm 1925.

10. Pier Giorgio Frassati được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong “Chân Phước” vào năm 1990, ngài gọi ngài là “người của các mối phúc” và “tông đồ đầy niềm của Đức Kitô”. Một năm trước đó, sau khi thăm mộ ngài, Thánh GH Gioan Phaolô II đã tiết lộ rằng chính ngài, khi còn là một người trẻ, cũng đã cảm nhận được “ảnh hưởng tích cực từ gương mẫu của ngài”.

“Ngài đã rời thế giới quá sớm,” Gioan Phaolô II nói, “nhưng ngài đã để lại dấu ấn trên suốt thế kỷ của chúng ta.”

11. Trong cuốn tiểu sử về anh trai mình, chị của Frassati, Luciana, đã viết rằng “ngài đại diện cho những gì đẹp nhất trong giới trẻ Kitô giáo: trong sáng, vui vẻ, nhiệt tình với mọi điều tốt đẹp.”

12. Pier Giorgio Frassati rất được yêu mến trong giới trẻ. Nhiều hội đoàn đã được thành lập mang tên ngài, và ngài được coi là đấng bảo trợ của các sinh viên (chủ yếu vì ngài không giỏi học), các bạn trẻ Công giáo, các nhà leo núi, các nhóm thanh niên, Công tác Công giáo, các tu sĩ dòng Đaminh (ngài đã gia nhập), và Ngày Giới Trẻ Thế Giới.

Video về Carlo Acutis

Chuyển ngữ từ 12 amazing facts about the life of Blessed Pier Giorgio Frassati

Thờ phượng không nhằm lợi ích của bạn

Với tư cách là quản xứ, tôi nhận được nhiều thư viết như thế này: “Con rất thích buổi thờ phượng hôm nay, con nhận được nhiều điều lắm.” Đây là một quan niệm sai lầm về việc thờ phượng. Thờ phượng không vì lợi ích của chúng ta! Chúng ta thờ phượng vì lợi ích của Thiên Chúa. Khi thờ phượng, mục tiêu của chúng ta là đem niềm vui cho Thiên Chúa, chứ không phải cho chính mình.

Nếu bạn đã từng nói, “Tôi không nhận được gì từ buổi thờ phượng hôm nay,” thì bạn đã thờ phượng vì một lý do sai lầm. Thờ phượng không dành cho bạn, mà dành cho Thiên Chúa. Dĩ nhiên, những cử hành mang tính thờ phượng đích thực cũng bao hàm các yếu tố của tình thân hữu, học hỏi, rao giảng Tin Mừng, và ở đó cũng có những lợi ích khác. Nhưng chúng ta không thờ phượng để làm vui chính mình. Động lực của chúng ta là đem vinh quang và niềm vui cho Đấng Tạo Hóa.

Trong sách Isaia 29, Thiên Chúa phàn nàn về việc thờ phượng hai lòng và giả hình. Dân Chúa dâng lên Ngài những kinh nguyện cũ rích, những lời ngợi khen không xuất phát từ trái tim, những lời lẽ trống rỗng và những nghi thức tẻ nhạt nhân tạo mà không hề nghĩ đến ý nghĩa thật sự của chúng. Thiên Chúa không động lòng bởi những truyền thống máy móc trong thờ phượng, nhưng Ngài sẽ động lòng bởi tình yêu nồng nàn và lòng trung tín. Kinh Thánh nói: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm; chúng chỉ kính sợ Ta theo lệnh của người phàm, nhưng đó chỉ là sáo ngữ.” (Is 29,13)

Thờ phượng không phải là một phần trong cuộc sống; đó là cả cuộc sống của bạn. Thờ phượng không chỉ là những gì diễn ra ở nhà thờ. Chúng ta nghe nói rằng hãy “thờ phượng Ngài liên lỉ” và “ngợi khen Ngài từ bình minh tới hoàng hôn.” Trong Kinh Thánh, dân Chúa ngợi khen Ngài khi làm việc, khi ở nhà, trong trận chiến, trong nhà tù và cả trên giường ngủ! Ngợi khen phải là công việc đầu tiên khi bạn vừa mở mắt mỗi sáng và là việc cuối cùng khi bạn khép mắt vào ban đêm. Vua Đavít nói: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Ngài chẳng ngớt trên môi.” (Tv 34,2)

Mỗi công việc đều có thể trở thành một hành vi thờ phượng khi bạn thực hiện nó vì lời ngợi khen, vì vinh quang và để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Kinh Thánh nói: “Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10,31).

Bằng cách nào để làm mọi việc cho vinh quang Chúa?

Hãy làm mọi việc như thể bạn đang làm điều đó thay cho Đức Giêsu, bằng cách nói chuyện liên lỉ với Ngài khi bạn đang làm việc. Thánh Phaolô nói: “Bất cứ làm việc gì, hãy làm tận tâm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời.” (Cl 3,23)

Đây là bí quyết của một đời sống thờ phượng: làm mọi việc như đang làm cho Đức Giêsu.

Trong một chú giải Thư Rôma 12,1, có đoạn viết: “Hãy lấy mỗi ngày, cuộc sống thường nhật của bạn — ngủ nghỉ, ăn uống, đi làm, và cả những lúc bận rộn — để đặt nó trước nhan Thiên Chúa như một của lễ.”

Công việc trở nên thờ phượng khi bạn dâng nó cho Thiên Chúa và thực hiện với ý thức rằng Ngài đang hiện diện.

Lần đầu tiên khi tôi yêu vợ mình, tôi nghĩ đến nàng liên tục: khi ăn sáng, khi lái xe đến trường, khi ngồi học, khi xếp hàng trong siêu thị, khi đổ xăng — tôi không ngừng nghĩ đến người phụ nữ này! Tôi thường nói chuyện với chính mình về nàng và nghĩ đến mọi điều khiến tôi yêu nàng. Điều đó giúp tôi cảm thấy gần gũi với Kay, dù chúng tôi ở cách nhau hàng trăm dặm và học ở những đại học khác nhau. Bằng việc nghĩ đến nàng mãi như thế, tôi đã ở lại trong tình yêu với nàng. Thờ phượng đích thực cũng như vậy — phải lòng và yêu mến Đức Giêsu. -- Trích từ Sống Theo Đúng Mục Đích của Rick Warren

Tôi không lên án chị đâu! Và từ nay đừng phạm tội nữa -- CN V Mùa Chay C

Việc Chúa Giêsu luôn đảo ngược tình huống như trong câu chuyện nhóm Pharisêu hỏi có nên ném đá người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang ở đây, việc không ai từng làm cho Ngài câm lặng mà Ngài luôn khiến họ câm lặng, là một trong những bằng chứng về thần tính của Chúa Giêsu. Trong Cựu Ước, mỗi khi Thiên Chúa xuất hiện, Ngài đều làm điều đó: Ngài đảo ngược tình huống, Ngài trở thành người đặt câu hỏi, còn kẻ chất vấn Ngài trở thành người bị chất vấn. Ví dụ, trong sách Gióp, Gióp hỏi Thiên Chúa: Tại sao Ngài lại làm điều này với con? Tại sao Ngài lại để con đau khổ nhiều đến vậy? Ngài biết con không đáng chịu điều này. Ngài biết con không phải là kẻ xấu xa nhất thế gian, như ba người bạn gọi là bạn của con đã nói. Tại sao Ngài để điều xấu xảy ra với người tốt? Đây là thứ công lý gì vậy? Cuối cùng Chúa xuất hiện và trả lời Gióp, câu trả lời của Ngài là dưới hình thức những câu hỏi: Ngươi ở đâu khi Ta tạo dựng thế giới và vạch ra câu chuyện cuộc đời ngươi? Ngươi có mặt ở đó để tư vấn cho Ta về kịch bản câu chuyện sao? Ta không thấy ngươi ở giữa các thiên thần của Ta.

Khi Thánh Catarina thành Siena hỏi Thiên Chúa hai câu hỏi quan trọng nhất — đó là “Ngài là ai?” và “Con là ai?” — Thiên Chúa đã trả lời bằng bốn từ: “Ta là Thiên Chúa; ngươi không phải là Thiên Chúa.”

Khi những người Pharisêu nghe câu trả lời của Ngài, tất cả đều ra về, bắt đầu từ những người lớn tuổi và khôn ngoan nhất, vì họ nhận ra rằng giờ đây họ là những người bị chất vấn. Chúa Giêsu ngầm đưa cho họ một thế khó: Họ có dám nói rằng họ không có tội hay không? Nếu họ bảo mình không có tội, họ là những kẻ ngốc nghếch hoặc dối trá nhất thế gian. Nếu thừa nhận họ có tội, họ không có quyền ném đá. Bây giờ họ hiểu rằng họ bị chất vấn, chứ không là kẻ chất vấn. Việc bị Chúa chất vấn chính là bước đầu tiên để có sự hiểu biết.

Chúa chất vấn bằng câu hỏi nào? Câu hỏi mà họ đang được hỏi chính là câu hỏi mà Thiên Chúa đã hỏi Gióp: Ngươi là ai? Đó là câu hỏi mà Thiên Chúa sẽ hỏi từng người trong chúng ta khi chúng ta chết: Ngươi là ai? Hãy cho Ta thấy tất cả mọi điều trong linh hồn ngươi. Nếu Ta thấy Con của Ta ở đó, Ta sẽ nhận ra ngươi và đón tiếp ngươi vào thiên đàng, vì ngươi là người trong gia đình.

Chúa Giêsu sau đó không chỉ trả lời họ mà còn trả lời người phụ nữ. Câu trả lời của Ngài dành cho người phụ nữ có hai phần. Trước hết, lời của Ngài có nghĩa là: “Vì không ai trong những kẻ tố cáo ngươi dám xét xử và buộc tội ngươi, vì tất cả họ đều nhận ra rằng họ cũng là tội nhân, nên Ta cũng không xét xử và buộc tội ngươi — dù Ta không có tội và có quyền xét xử và buộc tội ngươi.”

Mọi người đều vỗ tay trước phần đầu tiên trong câu trả lời của Ngài, nhưng họ thường quên phần thứ hai, phần cũng quan trọng không kém và mang theo với nó quyền năng Thiên Chúa phát ra từ chính đôi môi đó: “Hãy đi, và đừng phạm tội nữa.” Tha thứ không phải là thờ ơ, làm lơ. Chúa không nói, “Không có gì để tha cả.” Tội đã phạm. Ngài không nói, “Đừng lo lắng về chuyện đó.” Cô ấy phải đối mặt với tội của mình. Chúa không chỉ yêu người tội lỗi, mà còn ghét tội, chính vì Ngài yêu người tội lỗi. Ngài biết tội lỗi có hại thế nào và ơn tha thứ thì đắt đỏ chừng nào. Ngài sẽ phải trả giá cho tội lỗi của cô ấy, và Ngài biết cái giá đó đắt như thế nào: Ngài sẽ bị treo trên thập giá.

Ơn tha thứ đòi hỏi một sự bù trả. Khi chúng ta tha một món nợ, chúng ta mất đi một khoản tiền vì chúng ta có ít tiền hơn để trả cho những chủ nợ của mình. Nếu bạn nợ tôi một ngàn đô và tôi tha cho bạn, bạn không phải trả tôi, nhưng tôi vẫn phải trả những người mà tôi nợ — như bạn đã nợ tôi. Tha thứ là một hình thức hy sinh. Nó không dễ dàng hay rẻ tiền. Sự tha thứ của Thiên Chúa thì đắt giá. Bạn thực sự có thể nhìn thấy cái giá đó. Bạn nhìn thấy giá của nó trên mỗi cây thánh giá. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)