Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt -- Chúa Nhật thứ XIII, Mùa Thường Niên, năm B

Bài trích sách Khôn ngoan (Khôn ngoan 1,13-15 ; 2,23-24)

Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu.

Quả vậy, đức công chính thì trường sinh bất tử. Phải, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết.

-----

“Chúa không tạo ra cái chết.” Đây là một ý tưởng cấp tiến, mang tính cách mạng. Không có tôn giáo nào khác trên thế giới, không có triết học nào khác trên thế giới đưa ra ý tưởng này - chỉ có Do Thái giáo và Kitô giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo và tôn thờ Thiên Chúa của người Do Thái, Thiên Chúa mà Chúa Giêsu gọi là Cha của Ngài.

Những người đa thần ngoại giáo, những người tin vào nhiều vị thần, luôn bao gồm các vị thần của cái chết, bóng tối và sự hủy diệt cũng như các vị thần của sự sống, ánh sáng và tình yêu.

Các tôn giáo thần bí phương Đông như Ấn Độ giáo và Phật giáo dạy rằng không ai có thể biết về đấng tối cao hoặc thậm chí không tồn tại, như trong Phật giáo; hoặc rằng đấng ấy không thể đứng về phía nào; hoặc rằng ngài có mặt tối cũng như mặt sáng, như trong Ấn Độ giáo, nơi Brahman thể hiện mình trong Shiva, thần hủy diệt và Vishnu, thần sáng tạo hoặc bảo tồn và không có sự khác biệt.

Trong chủ nghĩa nhân văn thế tục, và cũng là tôn giáo của nền văn minh phương Tây hiện đại, Thiên Chúa hoặc không tồn tại hoặc “không hề phán xét ai”, không có ý chí, không đứng về phía nào, không ban hành các điều răn. Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, thì chỉ có vũ trụ, vũ trụ không đứng về phía nào; nó mang lại cho chúng ta sự sống và cái chết như nhau. Điều tương tự cũng đúng với một Thiên Chúa không hề phán xét, không ban hành luật lệ và điều răn nghiêm khắc, dung thứ mọi thứ, cái chết cũng như sự sống, điều ác cũng như điều tốt. Thiên Chúa của chủ nghĩa nhân văn thế tục chắc chắn không phải là đấng “ủng hộ sự sống”.

Thiên Chúa thật là Thiên Chúa của sự sống chứ không phải của cái chết. “Thiên Chúa”, vị thần được tạo dựng theo hình ảnh của chúng ta là thần của sự chết cũng như sự sống, nhưng Thiên Chúa, Đấng đã tạo nên chúng ta theo hình ảnh Ngài là Thiên Chúa của sự sống chứ không phải sự chết. Ngài là Đấng Tạo Hóa của mọi sinh vật chứ không phải là người hủy diệt mọi sinh vật. Ngài ban sự sống; Ngài không hủy diệt nó. Đó là lý do tại sao chúng ta phải phát sinh sự sống, chứ không hủy diệt nó.

Thiên Chúa không phải là kẻ giết người; đó là lý do tại sao chúng ta không được giết người. Thiên Chúa ủng hộ sự sống, chứ không ủng hộ phá thai (not pro-choice). Chính chúng ta là kẻ đã chọn cái chết. Chúa không chấp nhận sự lựa chọn đó. Chúa không phải là người ủng hộ việc chọn phá thai (God is not pro-choice). Thiên Chúa không trung lập. Thiên Chúa chiến đấu với chúng ta, cho chúng ta, chống lại kẻ thù của chúng ta: tội lỗi và sự chết. Chúa Kitô đến với chúng ta như một chiến sĩ để chiến thắng tội lỗi và cái chết cho chúng ta, bằng cách thay thế chúng ta, bằng cách chết cho chúng ta và sống lại cho chúng ta.

“Chúa không tạo ra cái chết.” Nhưng chẳng phải cái chết đã được xây dựng trong vũ trụ mà Chúa đã tạo ra sao? Mọi sinh vật đều chết: thực vật, động vật và con người. Ngay cả những thứ vô sinh cũng có ngày kết thúc: đá trở thành cát sau hàng triệu năm gió và sóng, và sau hàng tỷ năm, ngay cả các ngôi sao và thiên hà cũng chết.

Đúng, nhưng cái chết của con người khác với tất cả những cái chết khác. Chúa đã không làm nên nó. Ngài đã dựng nên con người để sống đời đời. Cái chết là hậu quả của sự sa ngã của con người, không phải là hậu quả của sự sáng tạo của Thiên Chúa. Cái chết là do ma quỷ phát minh ra, không phải của Chúa, và tổ tiên của chúng ta đã bị lôi kéo bởi ma quỷ, kẻ đã phát minh ra nghề lâu đời nhất thế giới, nghề quảng cáo. “Thấy quả táo này không? Bạn cần quả táo này. Nó rẻ. Nó chỉ khiến bạn phải trả giá bằng linh hồn mà thôi.” Đoạn sách Khôn Ngoan hôm nay nói: “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian.”.

Thánh Phaolô nói rằng “lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết” (Rm 6:23). Cái chết là hậu quả của tội lỗi, không phải do sự lựa chọn mà là do nó tất yếu phải như vậy. Nó không giống như việc cha mẹ quyết định trừng phạt một đứa trẻ vì một hành vi sai trái. Không phải là “Nếu con ăn cái bánh quy có đường đó thì con không thể ăn kem” mà là “Nếu con ăn cái bánh quy có đường đó, con sẽ bị đau bụng”.

Tại sao cái chết thể xác là hậu quả tất yếu của tội lỗi? Bởi vì tội lỗi là cái chết về mặt tâm linh, thể xác và tâm linh không phải là hai thứ riêng biệt mà là hai chiều kích của một thứ - đó là chính chúng ta. Cơ thể chúng ta đi theo tâm hồn chúng ta; cơ thể là một với linh hồn; nó không phải là một thứ riêng biệt và độc lập. Khi linh hồn chúng ta sa vào tội lỗi, thân xác chúng ta rơi xuống mức độ của loài thú vật, rơi từ sự bất tử xuống cõi sẽ phải chết, bởi vì linh hồn chúng ta xa rời Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch duy nhất của sự bất tử.

Một khi linh hồn chúng ta tuyên bố độc lập khỏi Chúa bởi tội lỗi của chúng ta, bởi sự sa ngã, sự sống của Chúa không còn tuôn chảy vô tận vào tâm hồn, vào thể xác chúng ta nữa. Khi chúng ta rút phích cắm ra, nguồn điện của Chúa không còn bật các thiết bị của chúng ta nữa.

Chúa không tạo ra cái chết. Cái chết là kẻ thù của chúng ta và Thiên Chúa không phải là kẻ thù của chúng ta. Khi người chúng ta yêu thương qua đời, chúng ta không nên nói rằng Chúa đã đem người ấy đi khỏi chúng ta mà là cái chết đã mang người đó đi. Nhưng chúng ta nên nói thêm rằng Thiên Chúa đã cất đi cái chết. Hành động của Thiên Chúa luôn ủng hộ sự sống. Ma quỷ đã phát minh ra cái chết, và chúng ta đã mua sản phẩm của ma quỷ, nhưng Thiên Chúa đã cứu chúng ta khỏi nó: khỏi cái chết tâm linh là tội lỗi, và khỏi cái chết thể xác là hậu quả tất yếu của tội lỗi, và khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả cuối cùng của nó. Nói cách khác, Chúa Kitô đã cứu chuộc chúng ta khỏi cả ba kẻ thù, tội lỗi, sự chết và địa ngục.

Nhưng cái chết về thể xác không phải là điều tự nhiên đối với chúng ta và chúng ta không nên chấp nhận nó như một điều tự nhiên sao? Không, nó không phải là điều tự nhiên đối với con người, không phải là một phần trong kế hoạch của Chúa. Và chúng ta không thể chấp nhận nó. Sâu thẳm trong trái tim, tất cả chúng ta đều mong muốn một điều gì đó hơn thế nữa. Chúng ta muốn thiên đàng. Không có con vật nào mơ về thiên đàng. Không có con vật nào có tôn giáo hoặc có mối quan hệ với Chúa. Chỉ có con người mới thưa với Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta cho chính Ngài, nên lòng chúng ta mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”

Nhưng cái chết bây giờ đã nằm trong cơ thể chúng ta, trong gen của chúng ta, trong bản thể chúng ta. Liệu chúng ta phải chấp nhận nó, bởi vì chúng ta phải chấp nhận con người thật của chính mình sao? Không, chúng ta không cần phải chấp nhận con người của mình lúc này và chúng ta không nên làm như vậy. Chúng ta cũng là những tội nhân ngu ngốc, ích kỷ, nông cạn: chúng ta nên chấp nhận điều đó hay nên chống lại nó?

Một cách tự nhiên, chúng ta ghét cái chết. Trừ khi chúng ta có nước thay vì máu trong tim và trong huyết quản, chúng ta phải chiến đấu với cái chết, cả trong chính mình và trong người khác; chúng ta không được đầu hàng cái chết; và khi chết, chúng ta phải đầu phục không phải cái chết mà là Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể chiến thắng cái chết cho chúng ta và là Đấng hứa cho chúng ta sự sống bất tử với Ngài mãi mãi trên thiên đàng.

Chúng ta đừng nghe theo những lời tiên tri giả, những nhà tâm lý học thế tục của chúng ta và chỉ “chấp nhận con người thật của chúng ta”. Hãy có trái tim; chúng ta hãy hy vọng; chúng ta hãy ước mong thiên đàng! – Peter Kreeft, Food For The Soul, Cycle B

"Anh em vẫn chưa có lòng tin sao" -- Chúa Nhật thứ XXII Mùa Thường niên, năm B

Trong thời thánh sử Mác-cô viết Phúc âm của ngài, thời tiết và biển cả được người Hy lạp ở Rôma coi là các vị thần. Thần Zeus/Jupiter là thần bão và Poseidon/Neptune là thần biển. Từ góc nhìn của người ngoại giáo, ở đây Chúa Giêsu cũng đang thể hiện quyền làm chủ của mình đối với các vị thần chính của đền thờ cổ xưa.

Từ xa xưa, Tin Mừng này cũng đã được hiểu như một dụ ngôn về Giáo Hội. Chiếc thuyền đánh cá của Thánh Phêrô được hiểu là tượng trưng cho toàn bộ Giáo hội trong giai đoạn phát triển này: Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. “Chiếc thuyền của Thánh Phêrô” đang bị đập tan thành từng mảnh trước sức mạnh của sự dữ và sự hỗn loạn trong lịch sử, gợi lại những mối liên quan về sự dữ với biển trong văn hóa Híp-ri.

Giữa cơn giông bão này, Chúa dường như ngủ quên, nói cách khác, Thiên Chúa vắng mặt và đã quên mất số phận dân Người.

Trong những thời điểm này, chúng ta thường bị cám dỗ để nghĩ Chúa Giêsu không quan tâm, rằng tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Ngài đã chấm dứt: “Thưa Thầy, Thầy không lo chúng ta sắp chết sao?” Đó là tiếng kêu thường xuất hiện ngay cả trong thời đại của chúng ta khi các Kitô hữu trên toàn cầu đang phải vật lộn với nhiều cuộc khủng hoảng khác nhau: một số bị đàn áp và đe dọa bởi Hồi giáo hiếu chiến, những người khác bị bóp nghẹt dưới các chế độ Marxist, vẫn còn những người khác bị truy đuổi khỏi cuộc sống công cộng và bị đẩy vào các góc xã hội bởi những kẻ theo chủ nghĩa tự do về tình dục và hệ tư tưởng về giới tính.

Họ muốn diệt văn hóa Kitô giáo bằng sóng thần màu tím của chủ nghĩa nhục dục. Khi những triển vọng truyền giáo và hoán cải văn hóa dường như ngày càng xa vời, và sự thù địch đối với Chúa Kitô và Giáo hội của Người ngày càng gia tăng ở mọi nơi trên thế giới, thì cá nhân Kitô hữu có thể bị cám dỗ tuyệt vọng trước sự chăm sóc của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không quan tâm sao?”

Câu trả lời của bài Tin Mừng hôm nay là thần tính của Chúa Kitô. Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Ngay cả các yếu tố tự nhiên, vật chất và năng lượng của vũ trụ này, cũng phải tuân theo lời Ngài. Nếu Ngài để cho Giáo hội của Ngài phải chịu những trận đòn và bị đánh đập trong những cơn bão của lịch sử, thì là vì Ngài có mục đích của riêng Ngài, và có lẽ là để các môn đệ của Ngài nhận ra rõ hơn Ngài là ai. Những cơn bão và giông bão tưởng chừng như rất đe dọa và bất khả chiến bại trong lúc này thực ra có thể bị đánh bại bất cứ lúc nào chỉ bằng một lời Chúa phán.

“Anh em vẫn chưa có lòng tin sao?” Đây là câu hỏi mà Tin Mừng đặt ra cho mỗi người chúng ta trong bài Phúc âm của Thánh lễ này. Chúng ta có tin rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng sáng tạo, dù sự việc xem có vẻ hoàn toàn trái ngược, Ngài là Chúa của vũ trụ và của lịch sử con người? Các môn đệ được ban cho một đặc ân lớn lao là được thấy quyền năng tỏ tường của Chúa Kitô bằng các giác quan của họ. Đôi khi trong lịch sử, những người khác cũng được ban cho đặc ân tương tự. Nhưng đối với hầu hết chúng ta, Chúa Giêsu muốn rằng niềm tin tưởng của chúng ta vào thiên tính của Ngài vẫn là một hành vi đức tin, tuy nhiên được truyền cảm hứng và thúc đẩy bởi những lời chứng của các Tông đồ (như được ghi lại trong Tin Mừng này) và những thị nhân khác cũng như những người nhận được phép lạ trong suốt lịch sử.-- Dr. John Bergsma

Bài giảng của ĐTC Phanxicô cho Chúa Nhật thứ XIII Mùa Thường Niên, năm B

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô  (Mc 5:21-43)

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm,  bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác.  Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người.  Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.”  Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.  Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi?”  Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ‘Ai đã sờ vào tôi?’”  Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó.  Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.  Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?”  Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”  Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an.  Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ.  Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!”  Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm.  Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!”  Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc.  Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.


Bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay (x. Mc 5, 21-43) trình bày hai điều kỳ diệu Đức Giêsu đã thực hiện, được mô tả gần giống như một cuộc khải hoàn tiến về sự sống.

Trước tiên, thánh sử nói về một ông Giairô nào đó, là một trong những trưởng hội đường. Ông đến gặp Đức Giêsu, và nài xin Người đến nhà ông, bởi vì đứa con gái mười hai tuổi của ông đang hấp hối. Đức Giêsu chấp nhận và cùng đi với ông, nhưng dọc đường, ông nghe tin là con gái ông đã chết. Chúng ta có thể tưởng tượng ra phản ứng của người cha này như thế nào rồi. Nhưng Đức Giêsu lại nói với ông: “Ông đừng sợ, ông chỉ cần tin” (c. 36). Khi mọi người đến nhà ông Giairô, thì Đức Giêsu đuổi mọi người đang khóc lóc ra khỏi nhà - cũng có những người phụ nữ khóc lóc gào to - và chỉ một mình Người vào trong phòng với cha mẹ em bé và ba môn đệ; đoạn, nói với người chết, Đức Giêsu phán: “Này bé gái, Ta truyền cho con, hãy trỗi dậy!” (c. 41). Và ngay lập tức, em bé thức dậy, như thể em tỉnh giấc từ một giấc ngủ mê say (x. c. 42).

Trong trình thuật phép lạ này, Thánh Marcô cũng chèn theo một phép lạ khác: vụ chữa lành một phụ nữ bị bệnh xuất huyết, và là người đã được chữa lành ngay tức khắc khi bà đụng đến y phục của Đức Giêsu (x. c. 27). Ở đây, chúng ta bị đánh động bởi sự kiện này là đức tin của người phụ nữ cuốn hút - tôi muốn nói là “ăn cắp” - quyền năng cứu thoát của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Đức Kitô cảm thấy một sức mạnh “đang xuất ra từ con người của Người”, nên Người tìm hiểu đâu là nguyên nhân. Và khi người phụ nữ, cảm thấy xấu hổ, liền tiến tới và thú nhận tất cả những gì mình đã làm, thì Người liền nói với bà: “Này con gái của Ta, đức tin của con đã cứu con” (c. 34).

Ở đây muốn nói đến hai trình thuật được lồng khít vào nhau, với một tâm điểm duy nhất: đức tin và hai trình thuật này chỉ cho thấy Đức Giêsu như nguồn suối sự sống, như Đấng ban lại sự sống cho những ai hoàn toàn tin tưởng vào Người.

Hai nhân vật chủ chốt, nghĩa là người cha của bé gái và nữ bệnh nhân, họ không phải là những người môn đệ của Đức Giêsu, thế nhưng, họ lại được Chúa nhậm lời vì đức tin của họ. Họ có niềm tin vào con người Đức Giêsu này. Với câu chuyện này, chúng ta hiểu rằng, trên con đường của Chúa, mọi người, ai ai cũng đều được đón nhận: không một ai cảm thấy mình là người không mời mà đến, hay người dính mũi vào câu chuyện người khác, hoặc nữa là người chẳng có quyền lợi gì cả.

Để có thể đi đến với con tim của Đức Giêsu, để có thể đi vào tâm hồn của Người, thì chỉ cần có một điều kiện mà thôi: đó là người ta cảm thấy mình cần được chữa lành, và cần phải tin tưởng vào Người. Tôi xin hỏi anh chị em một câu: mỗi người trong anh chị em có cảm thấy mình cần được Chúa chữa lành không? Chữa lành khỏi một điều gì đó, khỏi một tội lỗi nào đó, khỏi một vài vấn nạn nào đó? Và nếu người đó trong anh chị em cảm thấy mình cần được chữa lành, thì người đó có tin vào Đức Giêsu không? Đó chính là hai điều kiện để được chữa lành, để có thể đi vào được trong quả tim của Người: cảm thấy mình cần được chữa lành, và tin tưởng vào Người.

Đức Giêsu sẽ khám phá ra những con người cần được chữa lành này, và Người sẽ đưa họ ra khỏi tình trạng nặc danh không ai biết đến, Người sẽ giải phóng họ khỏi nỗi sợ hãi sống và và giúp họ dám làm. Người chữa lành họ bằng một cái nhìn và bằng một lời nói, và lại đặt họ bước đi sau biết bao nhiêu là đau khổ và tủi nhục. Chúng ta cũng thế, chúng ta được Chúa kêu gọi học đòi và bắt chước những lời nói này, những lời nói giải phóng, học đòi và bắt chước những cái nhìn này, những cái nhìn sẽ giúp cho những ai không còn muốn sống lại tiếp tục muốn sống.

Trong trích đoạn Phúc Âm này có chen lẫn những chủ đề đức tin và đời sống mới mà Đức Giêsu đã đến để ban tặng cho tất cả mọi người. Sau khi Chúa vào trong căn nhà nơi cô bé nằm chết, thì Người liền đuổi những ai gây ồn ào và than khóc ra khỏi nhà (x. c.40) và Người nói: “Đứa bé này không chết đâu, nó đang ngủ đấy” (c. 39).

Đức Giêsu là Chúa, và trước mặt Người, thì cái chết thể lý chỉ như một giấc ngủ: chẳng có lý do gì mà phải thất vọng cả. Có một cái chết khác mà chúng ta phải kinh, phải sợ: cái chết của con tim bị chai cứng vì điều xấu xa. Vì chưng, chúng ta phải sợ cái chết đó! Khi chúng ta cảm thấy rằng, chúng ta có quả tim bị chai cứng, quả tin chai cứng, và xin hãy cho phép tôi dùng thành ngữ quả tim của một xác ướp, thì đó mới là điều chúng ta phải kinh, phải sợ. Đó là cái chết của con tim. Nhưng thậm chí cả tội lỗi, thậm chí cả con tim của một xác ướp, cũng không phải là tiếng nói cuối cùng đối với Đức Giêsu đầu, bởi vì Người đã mang lại cho chúng ta lòng thương xót vô biên của Cha. Và ngay cả khi chúng ta đã rơi xuống thật sâu, thật sâu, thì giọng nói dịu dàng và mạnh mẽ của Người vẫn vang vọng đến đội tại chúng ta: “Ta truyền cho con, hãy trỗi dậy!”.

Thật là tốt đẹp biết bao khi nghe được lời nói này của Đức Giêsu là Đấng đang ngỏ lời với mỗi người trong chúng ta: “Ta truyền cho con, hãy trỗi dậy!” Hãy ra đi. Hãy trỗi dậy, can đảm lên, hãy trỗi dậy! Và Đức Giêsu đã ban lại sự sống cho em bé, và Người đã mang lại sự sống cho người phụ nữ được chữa lành: sự sống và đức tin sóng đối với nhau.

Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria đồng hành với chúng ta trên con đường đức tin, và trên con đường tình yêu cụ thể của chúng ta, đặc biệt đối với những ai đang sống trong cơn quẫn bách. Và chúng ta hãy khẩn cầu xin Mẹ Maria lấy tình mẫu tử mà cầu bàu cùng Chúa cho những người anh chị em của chúng ta đang đau khổ trong thể xác, cũng như trong tinh thần.