Mười cách mà chúng ta tìm thấy Chúa và mười cách Ngài tìm thấy chúng ta -- Chúa Nhật thứ III Mùa Thường niên, năm B

Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết,
lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con.
Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài
và bảo ban dạy dỗ,
vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.

Lạy Chúa, nghĩa nặng với ân sâu
Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời,
giờ đây xin nhớ lại.
Xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.

Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân,
dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính,
dạy cho biết đường lối của Người.
-- Thánh vịnh 24

Bài Thánh vịnh trong đáp ca của Thánh lễ hôm nay nói về “đường nẻo” của Thiên Chúa và xin Chúa dạy cho chúng ta “lối đi” của Ngài. Những từ đó có nghĩa là gì? Chúa Giêsu phán: “Ta là Con Đường” (Ga 14,6). Ý của Ngài là gì? Thay vì chỉ ngồi đó thụ động và cảm thấy buồn chán vì đã nghe những điều này quá nhiều lần, đến nỗi tất cả đã trở thành những lời sáo rỗng chẳng nói lên được điều gì với chúng ta, chúng ta hãy mạnh dạn suy nghĩ về những từ ngữ thực tế trong bài Thánh vịnh này, đặc biệt là từ “con đường”... “Đường lối” của Chúa là gì?

Nó có nghĩa là tính cách của Chúa, phong cách của Chúa, cá tính của Chúa, bản chất của Chúa, được thể hiện qua cách Chúa hành động, cách Chúa thực hiện mọi việc. Thiên Chúa có một tính cách, một cá tính. Ngài không phải là tất cả mọi thứ nói chung và không là sự gì riêng biệt. Thiên Chúa thì vô tận, nhưng vộ tận ở từng thuộc tính rất rõ ràng và có thể xác định được: Thiên Chúa khôn ngoan vô tận chứ không là khờ khạo; vô cùng mạnh mẽ, không hề yếu đuối; vô cùng tốt lành, không độc ác; sống động vô tận, chứ không là chết khô, v.v. Chúng ta có thể tìm biết Ngài hơn, làm bạn với Ngài và có một mối tương quan cá vị với Ngài vì Chúa có một tính cách đặc biệt, cũng tương tự như chúng ta có thể làm quen với nhau. Thiên Chúa không “nói chung là một thực thể”. Bạn không thể biết hoặc làm bạn với một “thực thể nói chung”.

Tác giả Thánh Vịnh đề cập đến bảy từ, bảy danh từ mô tả “đường lối” đó của Thiên Chúa: “sự thật”, “lòng trắc ẩn”, “tình yêu”, “thân ái”, “tốt lành”, “liêm chính” và “công bằng”. Vì vậy, nếu nhân cách của chúng ta giống Chúa, và nếu cách sống và hành động của chúng ta giống Chúa, thì chúng ta sẽ có sự thật trong tâm trí, sự ngay thẳng trong ý chí, tình yêu trong trái tim, lòng tốt trong ý định, lòng trắc ẩn trong cảm xúc, công bằng trong hành động và sự thân ái trong phong cách của mình. “Con đường” của Chúa thì trọn vẹn; đó là con đường cho mọi khía cạnh của cuộc sống chúng ta.

Sau đó, tác giả Thánh Vịnh sử dụng năm từ, năm động từ để mô tả mối quan hệ mà ông ước nguyện: xin Chúa “dạy” hay “chỉ bảo” cho ông đường lối của Chúa, xin Thiên Chúa “hướng dẫn” ông, xin Thiên Chúa “nhớ đến” ông, để Chúa có thể “cứu” ông, và Chúa có thể “chỉ lối” cho ông. Chúng ta hãy xét xem những từ quen thuộc này có nghĩa là gì.

Thiên Chúa nhớ đến chúng ta vì Ngài không bao giờ quên chúng ta. Chúa không bao giờ quên sự gì cả; Chúa biết tất cả mọi thứ, và Chúa không thay đổi.

Ngài dạy chúng ta bằng cách mạc khải đường lối của Ngài, bằng cách chỉ cho chúng ta chứ không chỉ bằng cách nói cho chúng ta biết – nghĩa là bằng cách chỉ cho chúng ta thấy các đấng thánh của Ngài, và trên hết là Con của Ngài.

Ngài hướng dẫn chúng ta trong những lựa chọn và hành động của chúng ta bằng luật pháp, các giới răn của Ngài, là lộ trình của chúng ta trong suốt cuộc đời.

Và Ngài cứu chúng ta khỏi ba kẻ thù tồi tệ nhất là tội lỗi, sự chết và hỏa ngục bằng cách đến giữa chúng ta để sống, chịu chết và phục sinh cho chúng ta.

Cuối cùng, tác giả Thánh Vịnh dùng hai từ để mô tả chúng ta, những đối tượng được Thiên Chúa dạy dỗ, biểu lộ cho biết, hướng dẫn, nhớ đến, cứu độ và chỉ dẫn. Họ là những “tội nhân” và “những người thấp hèn”.

Nếu chúng ta không biết và thừa nhận mình là tội nhân—tức là nếu chúng ta không khiêm nhường—thì chúng ta sẽ không nhận được bất kỳ “đường lối” nào của Thiên Chúa. Khiêm tốn, xưng tội và ăn năn tội lỗi là điều kiện đầu tiên và không thể chối cãi được để nhận biết Thiên Chúa. Tất cả các vị thánh, không có ngoại lệ, đều nói như vậy. Chúng ta không bắt đầu bằng “Tôi thông minh” mà là “Tôi ngu ngốc”; không phải với “Tôi đã đúng” mà là “Tôi đã sai”; không phải với từ “Biết mà!” nhưng với từ “Rất tiếc!” Kkhông phải bằng việc nói mà bằng việc lắng nghe; không phải bằng tiếng ồn mà bằng sự im lặng. Chúa nói theo những cách khác nhau đáng kinh ngạc, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ nghe được Ngài nếu chúng ta không im lặng.

“Những cách thức đa dạng tuyệt vời” đó để học “đường lối” của Chúa là những cách nào? Làm thế nào chúng ta, những tội nhân thấp hèn, nhận được sự dạy dỗ, hướng dẫn, ghi nhớ, cứu rỗi và bày tỏ từ Thiên Chúa, Đấng có “đường lối” chân thật, từ bi, đầy yêu thương, thân ái, nhân hậu, ngay thẳng và công bằng? Chúng ta tìm thấy Thiên Chúa và nhân cách độc đáo của Ngài ở đâu?

Trong vẻ đẹp và sự thông minh được thể hiện trong vũ trụ mà Ngài đã tạo dựng, trong những sự kiện quan trọng trong cuộc đời chúng ta, qua các vị ngôn sứ của Ngài, trong các tác phẩm của Kinh Thánh, trong những lời giảng dạy của Giáo hội, trong các tín điều của Giáo hội, trong chính lương tâm chúng ta và nhận thức của nó về luật luân lý tự nhiên, trong đời sống cầu nguyện của chúng ta, và trong đời sống các thánh; trên hết là nơi Chúa Kitô, Đấng được biết đến trong các Tin Mừng và được lãnh nhận trong các bí tích.

Đó là mười cách, mười cách mà chúng ta tìm thấy Chúa và mười cách Ngài tìm thấy chúng ta. Đây không phải là một bữa ăn nhẹ; đó là một bữa tiệc. Vì vậy, chúng ta hãy nhấm nháp nhiều hơn nữa tại bàn tiệc lộng lẫy trong Thánh lễ này. Những gì Chúa thết đãi không phải là quá ít mà là quá nhiều để chúng ta có đủ khả năng thưởng thức. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle B)

Đấng Mêsia sẽ là Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng Ngài sẽ cứu chúng ta khỏi cái gì? -- Chúa Hiển Linh, năm B

Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa
như bình minh chiếu toả trên ngươi.

Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.

Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. (Isaia 60:1-3)

Khi dân chúng nghe lời tiên tri rực rỡ và vinh hiển này của Isaia, khoảng năm hoặc sáu thế kỷ trước Đức Kitô, có lẽ hầu hết đều nghĩ rằng đó là lời tiên tri về một chiến thắng hữu hình, một chiến thắng vật chất, thuộc thế gian này của dân Israel chứ không phải là “Tin Mừng” của thế giới vượt khỏi thế giới tự nhiên và vô hình. Tin Mừng không chỉ là tin tốt đẹp hơn chiến thắng hữu hình, chỉ thuộc về thế giới vật chất, mà còn tốt đẹp hơn thế vô cùng bởi vì nó không chỉ mang lại cho chúng ta “thành công” tạm thời mà còn là “thành công” vĩnh viễn. Nhưng chỉ có ba nhà thông thái đến từ ngoài dân tộc Israel đủ khôn ngoan để nhận ra sự ứng nghiệm của lời tiên tri này nơi một đứa bé nằm trong máng ăn của gia súc, vì cha mẹ là những người nghèo không tìm được chỗ để sinh con.

Viễn cảnh của Isaia về việc cả thế giới hành hương đến Giêrusalem để thờ phượng Thiên Chúa thật, “của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi” và “lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha” mang vẻ của một viễn cảnh về sự thành công chính trị hữu hình trên thế giới này.

Tuy nhiên, dân tộc Israel, ngôi đền thờ vĩ đại và nghi lễ tôn giáo trọng tâm của đạo Do Thái, những tế lễ phụng vụ theo Luật Môsê, đã kết thúc vĩnh viễn khi người La Mã phá hủy thành Giê-ru-sa-lem và Đền thờ vào năm 70 SCN. Thật không chút nào là một câu chuyện về thành công! Nhưng sự thành công mang tính thiêng liêng. Gần một nửa thế giới tin vào Thiên Chúa của người Do Thái nhờ các nhà truyền giáo Kitô giáo.

Những lời tiên tri nói rằng khi Đấng Mêsia đến, Thiên Chúa sẽ thiết lập vương quốc của Ngài và cả thế giới sẽ biết đến Thiên Chúa thật. Đó là lý do tại sao người Do Thái không cử các nhà truyền giáo đi giảng đạo: họ tin rằng Đấng Mêsia vẫn chưa đến. Và đó là lý do tại sao những người Kitô hữu lại đi truyền đạo: bởi vì họ tin rằng Ngài đã đến và đã làm ứng nghiệm những lời tiên tri. Ngài đã thành lập vương quốc của mình trên trần gian và Ngài là vua của nó, nhưng ngai vàng của Ngài không phải là một chiếc ghế vàng trong cung điện. Ngai vàng của Chúa ở trong trái tim bạn, trong đức tin, hy vọng và tình yêu của bạn.

Tại sao Chúa không truyền cảm hứng cho các nhà tiên tri của Ngài để họ giải thích rõ ràng hơn? Thiên Chúa lẽ ra đã có thể khắc phục được sự hiểu lầm tự nhiên này về vương quốc của Ngài không là một vương quốc chính trị. Có lẽ đó là lý do chính tại sao hầu hết người Do Thái vào thời Chúa Giê-su không chấp nhận ngài là Đấng Mêsia. Khi họ đến tôn Ngài làm vua, Ngài đã lẩn trốn. Thay vì tranh cử, Ngài lại ẩn mình. Tại sao Thiên Chúa không nói rõ điều đó trong những lời tiên tri trong Cựu Ước về Đấng Mêsia? Tại sao Thiên Chúa lại cố tình truyền cảm hứng cho các tiên tri của mình để nói một cách mơ hồ như vậy?

Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, và điều tình yêu mong muốn trước hết không phải là trí óc mà là trái tim. Sự mù mờ của tâm trí là một thử thách của trái tim. Chúa ban cho chúng ta đủ ánh sáng để soi sáng cho chúng ta, để nếu muốn tìm Ngài thì sẽ tìm thấy, không muốn tìm thì sẽ không tìm thấy. “Ai tìm thì sẽ thấy” (Mt. 7:8). Nhưng ai không tìm thì không thấy. Ngài đang thử thách chúng ta, bởi vì Chúa là tình yêu và do đó Chúa muốn trái tim trước hết chứ không phải khối óc. Chúng ta không vào thiên đàng bằng cách vượt qua kỳ thi thần học mà bằng cách yêu mến Thiên Chúa và người khác. Ngài đang thử thách tấm lòng, tình yêu của chúng ta.

Đó là lý do tại sao những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với các môn đệ tương lai của Người trong Tin Mừng Gioan là “Các anh tìm gì thế?” (Gioan 1:38). Những người đặt lòng mình vào sự an ủi và thành công trần tục sẽ giải thích những lời hứa của Thiên Chúa, chẳng hạn như đoạn văn hôm nay của tiên tri Isaia, theo những gì trái tim họ ưa thích, và do đó hiểu sai chúng. Và những người có tấm lòng hướng về Chúa và về bản chất Ngài, đó là tình yêu, sự công chính, công bằng và lòng thương xót, sẽ giải thích chúng một cách đúng đắn, và họ sẽ tìm thấy Chúa Giê-su là Đấng Mêsia của họ. Ngài sẽ trao cho họ điều mà trái tim họ mong mỏi nhất. Ngài sẽ không làm điều đó với những người đặt trái tim vào thành công trần thế.

Trái tim luôn ảnh hưởng đến cái đầu. Việc làm đúng đắn dẫn đến việc biết suy nghĩ đúng đắn. Lối sống đúng đưa đến suy nghĩ đúng. Nếu bạn yêu, bạn sẽ thấy. “Phúc thay ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8). Chúa Giê-su nói với những người nghi ngờ Ngài: “Ai chọn làm theo ý của [Chúa Cha] sẽ biết lời dạy của tôi đến từ Thiên Chúa hay tôi tự mình giảng dạy” (Gioan 7:17). Đó là lý do tại sao các thánh biết Thiên Chúa hơn các nhà thần học: bởi vì người giải thích Tình Yêu tốt nhất chính là tình yêu.

Những lời tiên tri về Đấng Mêsia là những lời tiên tri về sự cứu rỗi. Đấng Mêsia sẽ là Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng Ngài sẽ cứu chúng ta khỏi cái gì? Thất bại quân sự? Nghèo túng? Đau khổ? Thiếu hiểu biết về xã hội? Da-ca-ri-a đã nói tiên tri rằng Hài Nhi này “sẽ cứu chúng ta khỏi kẻ thù” (Lu-ca 1:71). Nhưng kẻ thù của chúng ta là ai? Không phải người La Mã mà chính là tội lỗi của bản thân chúng ta. Thiên sứ loan báo rằng “Ông phải đặt tên con trẻ là Giê-su [có nghĩa là ‘Đấng Cứu Thế’ hay ‘Chúa cứu’], vì chính Ngài sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Mt. 1:21).

Lời mô tả sứ vụ đó giải thích tại sao vương miện của Chúa chúng ta không được làm bằng vàng mà là một vòng gai nhọn. Điều đẹp nhất ở nơi Chúa Giêsu là những vết thương, vì đó là những vết thương của tình yêu Thiên Chúa, và không có gì đẹp hơn tình yêu của Thiên Chúa. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle B)