Bí tích Rửa tội làm chúng ta trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa

Trích từ Chương 7: Giao Ước Thánh Thể của Những điều căn bản về Kinh Thánh cho người Công giáo

... Sự kiện dân chúng ở Lễ Ngũ Tuần đã nhận được “một quả tim mới... một quả tim bằng thịt” có thể được hiểu nhờ sự kiện họ “đau đớn trong lòng”. Quả tim bằng đá không dễ gì đau đớn được. Tuy nhiên, quả tim bằng thịt có thể bị tổn thương, có thể xúc động.

“Thần Khí mới” của Ê-dê-ki-en là Thánh Thần, được ban cùng với nước của phép rửa, mà nó thanh tẩy mọi “ô uể”, nói cách khác, là tội lỗi. Đây cũng là điều mà Giê-rê-mi-a đã nói: “Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31,34).

Đây là cách mà đám đông đáp trả:

“Vậy những ai đã đón nhận lời ông đều chịu phép rửa và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo. Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lẻ bé bệnh và cầu nguyện không ngừng" (Cv 2,41-42)

Đám đông đáp lại bằng cách lãnh nhận các bị tích: phép rửa (câu 41) và Thánh Thế (cáu 42). Câu 42 thật sự là một sự mô tả về Thánh lễ thời sơ khai. Chúng ta tiếp tục thực hiện bốn hành động này được liệt kê trong mỗi Thánh lễ. "chuyện cần nghe các Tông Đồ giảng dạy” là Phụng vụ Lời Chúa, ở đó chúng ta lắng nghe các bản văn Kinh Thánh được giải thích dưới ánh sáng giáo huấn của các Tông Đồ. “Hiệp Thông Với Nhau" được diễn tả bằng việc chúc nhau bình an và sự quyền góp (chuyền nhau giỏ thu tiền quyên góp), điều này cho thấy sự hiệp nhất trong tình yêu và sự hiệp nhất trong những phương diện khác của chúng ta. “Tham Dự Lễ Bé Bành" là thuật ngữ ban đầu của Thánh Lu-ca dùng cho chính Phụng vụ Thanh Thế Và “cầu nguyện không ngừng” là các lời nguyện phụng vụ lắp đầy Thánh lễ từ đầu đến cuối.

Các bí tích là phương thế mà Thánh Thần được ban cho chúng ta. Nếu chúng ta xem lại bài giảng của Thành Phê-rô, thị chúng ta sẽ thấy ngài đang nói những điều tương tự dưới đây.

“Chính Đức Giê-su đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chung Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nàng Người lên, trao cho Người Thành Thần đã hứa, để Người đó xuống, đó là điều anh em đang thấy đang nghe.” (CV 2,32-33)

Đám đông đã không thể chứng kiến Đức Giê-su được tôn lên ngai vua, nhưng họ có thể nhận thấy các hiệu quả, bao gồm sự tuôn đổ Thần Khí, có thể nhìn thấy dưới hình lưỡi lửa, và có thể nghe thấy nơi cơn gió rất mạnh và các thứ tiếng khác nhau của các tông đồ.

Hình ảnh thiêng liêng mà Thánh Phêrô mô tả là thứ gì đó giống thế này:

Chúa Cha đang ban Thần Khí cho Đức Giê-su Ki-tô là Chúa Con, là Đấng đang tuôn đổ Thần Khí trên các tông đồ.

Đức Giê-su đang hoàn tất điều được biểu tượng hóa trên thập giá, là nơi mà chúng ta đã nhìn thấy dòng máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người. Chúng ta đã nói đó là một biểu tượng của dòng sông sự sống, là Thánh Thần, đang tuôn chảy từ Người, trong hình thức của các bí tích: phép rửa (nước), và Thánh Thể (máu).

Giờ đây tại Lễ Ngũ Tuần, biểu tượng trở thành hiện thực. Đức Giê-su đang tuôn đổ Thánh Thần trên các Tông Đồ, là những người rao giảng cho dân chúng. Dân chúng tin nhận. Họ lãnh nhận các bí tích, mà chúng cũng thông ban Thánh Thần cho chúng ta. Họ uống lấy từ dòng sông sự sống đang tuôn chảy từ cạnh sườn Đức Ki-tô.

Phép rửa là sự tái sinh thiêng liêng. Nó là phương thể làm chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa. “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,12-13). Bạn sẽ nghe các nhà chính trị và những người của công chúng nói: “Tất cả chúng ta là con Thiên Chúa”. Điều đó nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng không đúng lắm. Chúng ta nên nói thế này: “Tất cả chúng ta có thể là con Thiên Chúa”. Mỗi con người đều có tiềm năng để trở thành con của Thiên Chúa. Nhưng tiềm năng này không trở thành sự thật trừ khi bạn chịu phép rửa. Đó là giáo huấn của các Tông đồ. Nếu có phương thế nào đó khác để trở thành con Thiên Chúa, thì Đức Giê-su đã không cần phải chịu đau khổ, chết, và sống lại từ cõi chết.

Với ơn huệ của Thánh Thần, chúng ta đi một vòng tròn trọn vẹn trong lịch sử cứu độ. Địa vị được làm con Thiên Chúa [divine filiation] mà A-đam vui hưởng trong Vườn Địa Đàng - mối tương quan con thảo với Thiên Chúa – được ban trở lại cho toàn thể nhân loại. Thánh Phao-lô nói:

“Nhưng khi thời gian tới hỏi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và dưới Lề Luật, để cứu chuộc những ai sống dưới Lê Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con minh đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Áp-ba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,4-7)

Điều này đã ban trở lại cho từng người trong chúng là sự “tỏa sáng” của A-đam:

Khuôn mặt của chúng ta phát ra tia sáng vì chúng ta là “con Thiên Chúa”. Và đó là điều độc nhất vô nhị chỉ riêng Ki-tô giáo mới có. Các tôn giáo khác không hề đòi biến bạn thành con Thiên Chúa. Trong Hồi giáo, Thiên Chúa không có con cái, chỉ có các tôi tớ – các nô lệ, quả thật như thế. Điều tốt nhất mà bạn có thể hy vọng là trở thành một nô lệ tốt. Trong Phật giáo, Thiên Chúa có thể hoặc không tồn tại; điều đó thật sự không thành vấn đề vì mục đích của bạn là làm mất đi ảo tưởng về cái ngã của mình, chứ không phải trở thành con Thiên Chúa. Trong Ấn giáo, Thiên Chúa không phải là Người Cha yêu thương; Thiên Chúa tuyệt nhiên là một Sức Mạnh Tối Cao phi ngôi vị [impersonal Force] có thể mang lấy những hình dạng khác nhau. Trong hầu hết các hình thức của Do-thái giáo, Thiên Chúa như một người Cha – nhưng chỉ cho người Do-thái.

Và trong chủ nghĩa vô tín, bạn chỉ là sự ngẫu nhiên khác trong một vũ trụ đầy ngẫu nhiên. Các tôn giáo khác nhau không phải là những con đường dẫn lên cùng một ngọn núi. Họ đang trèo lên những ngọn núi khác nhau:

Nói về các ngọn núi... giờ đây chúng ta đã thực hiện được một hành trình hoàn hảo về bảy giao ước và các đấng trung gian của lịch sử cứu độ:

Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (14:1-12)

Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”

-----------

Một số thuật ngữ về đền thờ được sử dụng trong đoạn Phúc âm này. “Nhà Cha Thầy” được dùng để chỉ Đền thờ trong các phần khác của Phúc âm (Lu-ca 2:49; Gioan 2:16). Đền thờ là tòa nhà lớn nhất ở Israel và có đầy những nhà kho, tiền sảnh và các khoảng không gian khác, do đó: trong đó có “nhiều chỗ ở”. Cuối cùng, trong Do Thái giáo từ “nơi chốn” (topos tiếng Hy Lạp, maqôm tiếng Do Thái) có một ý nghĩa đặc biệt. Nó thường có nghĩa là “nơi thánh”, tức là “cung thánh” (xem Gioan 11:48 tiếng Hy Lạp; xem Sáng Thế 28:17). Tất cả những điều này nói về Chúa Giêsu sẽ ra đi để chuẩn bị một Đền thờ cho các Tông đồ cư ngụ.

Đền Thờ Chúa Giêsu chuẩn bị này là gì? Theo một nghĩa nào đó, đó là Giáo hội, ở những nơi khác được xác định là Đền thờ của Thiên Chúa. Các môn đệ sẽ sống và ở trong Giáo hội, Nhiệm thể của Chúa Kitô, và ở đó họ sẽ cảm nghiệm được sự hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và với nhau. Những lời của Chúa Giêsu cũng có thể áp dụng cho thiên đàng, nơi đó không gì khác hơn là Giáo hội khải hoàn.

Các môn đệ muốn biết “con đường” để đi đến Đền thờ này và Chúa Giêsu nói với họ: “Thầy là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Có phải Chúa Giêsu hơi ngạo mạn khi tuyên bố rằng chỉ mình Ngài, trong tất cả các bậc thầy tôn giáo vĩ đại trong lịch sử nhân loại, là “con đường duy nhất dẫn đến Chúa Cha”?

Thật là không. Không một nhân vật tôn giáo lớn nào khác trong lịch sử nhân loại đã dạy rằng Đức Chúa Trời là Cha. Mohammed phủ nhận Thiên Chúa là Cha, và Đức Phật không dạy giáo lý cụ thể nào về Thượng Đế. (Đức Phật tên là Siddhartha Gautama; “Buddha” là một danh hiệu có nghĩa là “Người đã giác ngộ.”) Trên thực tế,  Đức Phật là một người theo thuyết bất khả tri, và một số hình thức Phật giáo vẫn còn là theo thuyết bất khả tri. Do đó, cả Mohammed và Đức Phật đều không tuyên bố mình là con đường dẫn đến “Chúa Cha”. Họ tuyên bố sẽ chỉ cho bạn con đường đến với Allah hoặc đến Niết bàn. Những người sáng lập tôn giáo ít được biết đến trong lịch sử loài người (Zoroaster, Guru Nanak) cũng không hề tuyên bố họ sẽ chỉ đường đến với Chúa Cha.

Chỉ có Chúa Giêsu tuyên bố Thiên Chúa là Cha. Chúa Giêsu và giáo huấn của Ngài là “con đường duy nhất dẫn Chúa Cha”, con đường duy nhất dẫn loài người đến với Chúa Cha.

Sau khi nhấn mạnh đến sự hợp nhất của chính mình với Chúa Cha (“Ai đã thấy tôi là đã thấy Cha”), Chúa Giêsu hứa “ai tin vào tôi sẽ làm những việc tôi làm, và sẽ làm những việc lớn lao hơn nữa”. Chúa nói gì vậy? Có phải tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu sẽ làm cho kẻ chết sống lại và thực hiện những phép lạ thậm chí còn vĩ đại hơn chính Chúa Giêsu đã làm không? Việc ấy sao mà có thể được?

Tôi tin chắc rằng các bí tích ít nhất là một phần giải pháp cho điều mà Chúa Giêsu muốn nói: “những công việc lớn lao hơn” sẽ được thực hiện bởi các tông đồ. Các “dấu chỉ” kỳ diệu trong Phúc âm Gioan đã được thuật lại theo cách mà chúng ta có thể thấy chúng giống với các bí tích của Giáo hội: đặc biệt trong dấu lạ biến Nước thành rượu (Gioan 2) và nuôi năm ngàn người ăn (Gioan 6) đối với Bí tích Thánh Thể; Chữa lành người mù bẩm sinh (John 9) đối với Bí tích Rửa tội. Tất cả những dấu lạ Chúa Giêsu thực hiện đều có một mối liên hệ nào đó với các bí tích.

Xuyên suốt Phúc âm của thánh sử Gioan, Chúa Giêsu cảnh báo mọi người đừng quá ấn tượng với những phép lạ vật chất mà hãy hướng đến những thực tại tâm linh sâu sắc hơn (ví dụ, Gioan 4:48; 20:29). Nhìn từ góc độ tâm linh, những hiệu quả nội tâm của các bí tích – chẳng hạn như sự tha thứ tội lỗi – là những phép lạ vĩ đại hơn nhiều so với những biến đổi thể chất những dấu chỉ Chúa Giêsu làm nên. Một số nhà thần học vĩ đại nhất của Giáo hội đã nhấn mạnh rằng sự sống lại của Lazarô thì không là gì so với quyền năng của tòa giải tội:

Nhưng ngay cả việc làm cho người chết sống lại, phép lạ mà qua đó, một xác chết sống lại với sự sống tự nhiên của nó, hầu như không là gì so với sự sống lại của một linh hồn, vốn đã chết về phần linh hồn trong tội lỗi và nay đã được sống lại với sự sống siêu nhiên của ân sủng.[1]

Tương tự như vậy, Thánh Augustinô dạy:

Sự công chính hóa của những kẻ tội lỗi  là một điều vĩ đại hơn cả việc tạo dựng trời và đất, thậm chí còn vĩ đại hơn cả việc tạo dựng các thiên thhần.[2]

“Những việc lớn lao hơn” mà các Tông đồ sẽ thực hiện sau khi Chúa về trời bao gồm việc ban phát các bí tích, các bí tích có sức tha thứ tội (Gioan 20:22–23).

Tóm lại: tất cả các bài đọc đều hướng về Bí tích Thánh Thể. Bí Tích Thánh Thể là Thân Thể Chúa Kitô, là Nơi Cư Ngụ và Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa. Nói rộng ra, chúng ta, những người tham dự Bí Tích Thánh Thể, cũng được tháp nhập vào Đền Thờ của Thiên Chúa. Những người trong chức thánh, những người mang đến cho chúng ta Bí tích Thánh Thể và các bí tích khác, là chìa khóa cho cấu trúc của Đền thờ này. Các Bí tích này là “những công việc vĩ đại hơn” mà các Tông đồ sẽ thực hiện nhân danh Chúa Giêsu, đưa chúng ta đến với Chúa Cha để chúng ta có thể cùng ở với Ngài và với Chúa Con. -- Dr. John Bergsma

[1] Garrigou-Lagrange, The Three Conversions, 15.
[2] St. Augustine, The City of God, Book IV, chapter 9.