Chúa Nhật thứ IV Mùa Chay, năm A: Mù từ khi mới sinh -- từ bóng tối của tôi và sự chết đi vào ánh sáng và hiện hữu

Người mù từ khi mới sinh là mẫu hình của người đã được rửa tội. Tất cả chúng ta được sinh ra trong tình trạng mù của tâm linh, sinh ra trong tội tổ tông.

Câu hỏi của các môn đệ: “Ai đã phạm tội… anh ta hay cha mẹ anh ta?” phản ánh niềm tin của người Pha-ri-sêu rằng dị tật bẩm sinh là kết quả của tội lỗi cha mẹ, nếu không thì chính đứa trẻ đã phạm tội khi còn trong bụng mẹ.

Chúa Giêsu nói “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.” Trái lại, đây là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.

Chúa Giêsu khẳng định: “Ta là sự sáng của thế gian”. Để hiểu nghĩa lời tuyên bố này, và toàn bộ câu chuyện chữa lành ở đây, chúng ta phải lưu ý rằng nó xảy ra trong một đoạn dài của Phúc âm thánh Gioan (chương 7–9) và diễn ra trong Lễ Lều của người Do Thái. Lễ hội rực rỡ này được đánh dấu bằng hai chủ đề: ánh sáng (Da-ca-ri-a 14:7) và nước (câu 8). Đền thờ được thắp sáng bằng những chiếc đèn menorah khổng lồ suốt đêm trong một tuần, và vào ngày cuối cùng của lễ hội, nước được lấy từ Hồ Siloam và đổ lên bàn thờ của Đền thờ như một lời cầu nguyện cho mưa và là một cách để hiện thực hóa về nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước về một dòng sông chảy ra từ Đền Thờ trong thời kỳ sau cùng (xem Êdêkien 47; Giô-en 3:18; Da-ca-ri-a 14:8).

Chương 9 kết thúc phần dài này của Gioan và tập hợp các chủ đề về nước và ánh sáng, khi Chúa Giêsu dùng nước để đem lại ánh sáng cho người đàn ông này. Rõ ràng, nước và ánh sáng cũng có liên quan đến sự sáng tạo, bởi vì trước tiên nước bao phủ vực sâu, và sau đó Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng” (Sáng thế 1:3).

Nhưng trước tiên, Chúa Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và lấy bùn xức vào mắt người đàn ông.

Việc xức dầu là một chủ đề quan trọng – rửa tội là sự xức dầu của Chúa Thánh Linh. Cho đến ngày nay, nghi thức Rửa tội bao gồm việc xức dầu thánh như một biểu tượng của thực tại này.

Việc Chúa Giêsu nhổ nước miếng vào đất có ý nghĩa gì?

Ý kiến riêng của tôi dựa trên các Cuộn sách Biển Chết, trong đó con người được mô tả là “được nhào nặn từ bụi đất… con người là từ rất nhiều nước nhổ… chỉ là đất sét bị cắt ra” (xem 1 QS 11:21; 1QHa 20:35; 4Q264 1 9). Tôi nghĩ điều này phản ánh cách hiểu của người Do Thái cổ đại về câu chuyện sáng tạo, trong đó Chúa nhổ xuống đất và tạo nên cơ thể của Adam từ đất sét/bùn.

Việc Chúa Giê-su nhổ nước miếng xuống đất là một tóm tắt của công trình sáng tạo nên Ađam, người đàn ông đầu tiên. Chúa Giêsu đang tái tạo người mù này, đưa anh ta từ bóng tối (từ trống rỗng) sang ánh sáng (sáng tạo). Ngài cũng chính là Thiên Chúa đã tuyên bố từ lâu: “Hãy có ánh sáng!”

Các chủ đề sáng tạo mới cũng được bày tỏ ở những điểm khác. Sau khi xức vào mắt, Chúa Giêsu sai người ấy đến hồ Si-lô-ê để rửa. Hồ Si-lô-ê chứa nước của Ghi-hôn, suối cung cấp nước cho Giê-ru-sa-lem. Nó được đặt tên là Ghi-hôn theo tên một trong những con sông của Eđen (Sáng thế 2:13) vì người Do Thái coi Giê-ru-sa-lem là một kiểu của Eđen mới. Vì vậy, một cách huyền nhiệm, nước của Siloam là nước Eđen hoặc nước của cuộc sáng tạo. Người đàn ông mù này đang được làm nên mới.

Sau khi rửa sạch nơi hồ Si-lô-ê, anh ta bước vào ánh sáng (Sáng thế 1:3) và trở về nhà của mình.

Những người biết anh ta không có cùng một ý kiến: một số người nghĩ rằng anh ta chính là người đàn ông đã từng đi ăn xin, nhưng những người khác nói: “Không, trông giống anh ta thôi”.

Người đàn ông trả lời và câu trả lời có vẻ mù mờ: “I am / tôi là”. Anh là cái gì? Giống như trước hay đã khác đi.

Sự mơ hồ là cố ý vì đây là bài giáo lý về phép rửa. Khi chịu phép rửa, chúng ta ra khỏi giếng rửa tội với tư cách là người trước đây hay là một người khác giống như người đã đến để lãnh nhận bí tích Rửa tội? Câu trả lời đúng là: Có cho cả hai! “Nếu ai ở trong Đức Kitô, người ấy là tạo vật mới; cái cũ đã qua … cái mới đã đến” (2 Cor 5:17).

Lưu ý rằng đây là chỗ duy nhất trong Phúc âm thánh Gioan mà không ai khác ngoài Chúa Giê-su sử dụng cụm từ “I AM / Ta là Đấng Hiện hữu”. Sau khi được rửa tội, con người được dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Chúng ta chỉ thực sự bắt đầu hiện hữu khi bước vào mối quan hệ với Chúa Kitô. Cuộc sống không có Chúa Kitô là không tồn tại, là trong bóng tối.

Cuộc đối đáp sau đó với những người Pha-ri-sêu thật hài hước nhưng chúng ta không có đủ chỗ để bình luận về nó ở đây. Những lời tuyên bố của những người Pha-ri-sêu thường rất mỉa mai. Mặc dù được sáng mắt về mặt thể lý, nhưng họ hoàn toàn mù lòa về mặt tâm linh. Phần anh bị mù từ lúc mới sinh, có một sự tiến triển về sự hiểu biết của anh về Chúa Giêsu thông qua hết các sự việc, cho đến cuối đoạn Phúc âm khi anh ta nhận ra cách trọn vẹn Chúa Giêsu là Thiên Chúa và thờ phượng Ngài. Điều này tượng trưng cho sự tăng trưởng về sự hiểu biết của chúng ta về Đức Kitô sau khi lãnh nhận bí tích Rửa tội.

Chúa Giêsu, Vị Mục Tử mới, Vua Đavít mới, Đấng được Chúa Thánh Thần xức dầu, tóm tắt sự trớ trêu của toàn bộ biến cố qua những lời này:

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

Nhìn thấy thế giới qua con mắt của Thiên Chúa bộc lộ sự trớ trêu và mâu thuẫn vì “ Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm… ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng.”

Đối với những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, các bài đọc hôm nay khơi dậy trong tâm hồn chúng ta cảm kích sâu sắc về những gì Thiên Chúa đã được thực hiện cho chúng ta trong Chúa Kitô và được áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta qua các bí tích. Chúng ta là những thụ tạo mới! Chúng ta đã bước vào ánh sáng của Chúa! Chúng ta đã được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần!

Nếu chúng ta cảm thấy mình mệt mỏi, mù mờ và mất tinh thần, có thể tội lỗi hoặc việc bị phân tâm bởi những lo lắng của cuộc sống này (Mt 13:22) đã làm quan điểm của chúng ta bị lệch lạc. Mùa Chay còn ba tuần nữa: đủ thời gian để trở về với việc đi xưng tội, siêng năng cầu nguyện và tách lìa khỏi quyến rũ của thế gian qua việc từ bỏ cái tôi. Rồi chúng ta sẽ khám phá ra niềm vui của việc được “bước đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng,” (1 Gioan 1:7) -- Dr. John Bergsma

Chúa Nhật thứ III Mùa Chay, năm A: Chàng Rể đến với dân của Người, Đấng Mêsia đã đến để cứu dân Người khỏi nô lệ của ngoại bang

Các bài đọc trong Chúa Nhật thứ III Mùa Chay, năm A

Câu chuyện trong bài Phúc âm hôm nay có rất nhiều hình ảnh hôn thê hôn phu trong đó nên khó để nói ra hết ở đây.

Trước hết là việc Chúa Giêsu gặp người phụ nữ này bên giếng nước. Điều này xảy ra ba lần trong Cựu Ước – đó là cách các Tổ phụ gặp người vợ của họ. Hãy nghĩ về I-xa-ác và Rê-bê-ca (Sáng thế 24, dù lễ đính hôn này là do người đại diện); Gia-cóp và Ra-chen (Sáng thế 29); và Môsê và Xíp-pô-ra  (Xuất hành 2). Dựa vào các câu chuyện trong Cựu Ước, khi Chúa Giêsu ngồi xuống bên giếng nước, chúng ta cũng chờ xem nếu có một phụ nữ xuất hiện, và người đàn bà Sa-ma-ri đã làm như vậy!

Kế đến, Chúa Giêsu xin người đàn bà Sa-ma-ri này nước uống. Hãy để ý: xin nước uống cũng đã là dấu hiệu mà đầy tớ của Áp-ra-ham dùng để xác định xem Rê-bê-ca có phải là cô dâu mà Thiên Chúa định cho I-xa-ác hay không (Sáng thế 24:14). (Đáng chú ý là nơi duy nhất khác trong Phúc âm Gioan khi Chúa Giêsu xin nước uống là trên cây thánh giá).

Chúa Giê-su và người đàn bà bắt đầu thảo luận về giếng nước, và ở một thời điểm Chúa Giêsu nói: “Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Đây là một ám chỉ tinh tế đến sách Diễm ca chương 4:15, trong đó chàng rể gọi cô dâu của mình là suối nước hằng sống. Khi chúng ta lãnh nhận nước của Chúa Giêsu, chúng ta bước vào mối liên hệ hôn thê với Người.

Cuối cùng, chủ đề hôn nhân được đề cập rõ ràng khi Chúa Giêsu yêu cầu người phụ nữ đi gọi chồng rồi sau đó trở lại với Ngài. Chị trả lời: “Tôi không có chồng”, và Chúa Giêsu đáp: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”

Đây là một người phụ nữ có lịch sử cá nhân rắc rối; đó là lý do chị đến giếng vào buổi trưa, để tránh những người phụ nữ khác theo thói thường, sẽ đến giếng lúc bình minh và hoàng hôn.

Nhưng lịch sử cá nhân của người phụ nữ là một biểu tượng của lịch sử dân tộc của chị. Chị là một phụ nữ làng Sa-ma-ri. Người Sa-ma-ri là con cháu của những người nghèo ở miền bắc Israel (bị quân Át-sua bỏ lại vào năm 722 trước Công nguyên) và năm quốc gia dân ngoại mà những kẻ chinh phục Israel đem vào Sa-ma-ri. Người dân Israel đã kết hôn với họ và cũng thờ lạy các vị thần của ! (Xem 2 Các Vua 17, đặc biệt là các câu 24–34. Hãy nhớ rằng tác giả của Các Vua quyển hai đã hạ thấp vai trò của những người Israel còn sót lại trong xứ sở, những người mà chúng ta biết đến sự hiện diện của họ từ các nguồn khác).

Sau đó, sau khi người vùng Giuđa trở về Giê-ru-sa-lem vào cuối những năm 500 trước Công nguyên, người Sa-ma-ri phía bắc dần dần từ bỏ việc thờ các thần khác và quay trở lại thờ phượng YHWH (cách dân Israel viết tên Chúa để tỏ lòng tôn kính), Thiên Chúa của Israel, nhưng họ đã không thờ phượng theo giao ước của Chúa với Đa-vít, rằng Giê-ru-sa-lem là nơi thờ phượng. Họ đã xây dựng đền thờ của riêng mình (được đề cập trong Gioan 4) ở Gerizim và tìm cách thiết lập mối quan hệ với Thiên Chúa mà không tuân theo hình thức giao ước đã đặt ra. Ngày nay chúng ta gọi nó là gì khi người ta sống chung với nhau nhưng không có mối quan hệ giao ước đúng đắn? Xem với Gioan 4:18 để thấy sự liên kết: “Vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”

Kinh nghiệm của người phụ nữ phản ánh kinh nghiệm của người dân của cô ấy. Người dân phía bắc Israel, tổ tiên của họ, đã rời bỏ Thiên Chúa, chồng của họ suốt từ sách Các Vua 12 quyển 1 (xem thêm Hôsê 1–3, tất cả các lời tiên tri của Hôsê nói về miền bắc Israel!). Lúc này YHWH (tức Chúa Giêsu), Chàng Rể của Israel (Hôsê 2:14-23) đã trở lại để lôi kéo người dân Sa-ma-ri.

Ngài đã thành công và không chỉ người đàn bà đến múc nước ở giếng mà chính những người dân trong làng cũng tin rằng Ngài là Đấng Mêsia: “Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”.

Xuyên suốt toàn bộ quá trình trò chuyện này là chủ đề về nước hằng sống của Chúa:

“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

Đây là nước của bí tích Rửa tội, nước của Chúa Thánh Thần. Như Chúa Giêsu sẽ nói sau này, vào ngày cuối cùng của Lễ Lều, khi nước được đổ trên bàn thờ trong Đền Thờ:

“Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống ! Như Kinh Thánh đã nói : Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Gioan 7:37-38).

Nếu các bài đọc tuần này khiến chúng ta nghĩ lại ngày ta được rửa tội với cảm giác tiếc nuối, thì đó là một điều tốt. Nhưng chúng ta không cần phải được rửa tội lần nữa để thức tỉnh ơn Chúa Thánh Thần và các ân sủng nhiều người trong chúng ta đã lãnh nhận rất lâu trước đây. Nếu tội lỗi đã làm cạn kiệt nước hằng sống, thì đây là tuần của thời gian thuận tiện, tuần của ân sủng để sắp xếp việc đi xưng tội, một bí tích mà các Giáo phụ và các Tiến sĩ Hội thánh coi là việc làm bí tích Rửa tội được mới lại. -- Dr. John Bergsma

Chúa Nhật thứ II Mùa Chay: Chúa Giêsu Kitô -- Đấng trung gian độc nhất vô nhị, năm A

Các Giáo phụ từ lâu đã nhận ra việc Chúa Biến Hình là một sự nếm trước hoặc một cái nhìn thoáng qua về vinh quang của Chúa Kitô sau khi Ngài phục sinh. Chúa cho Phêrô, Giacôbê và Gioan được nhìn thấy vinh quang của Ngài để khuyến khích họ kiên trì vượt qua những thời kỳ khó khăn sắp tới, trước khi họ được nhìn thấy sự phục sinh của Đức Kitô. Đối với chúng ta khi nghe Tin Mừng này công bố trong Thánh Lễ, mục đích của đoạn Phúc âm này là để khuyến khích chúng ta không chỉ kiên trì trong việc hãm mình và khổ hạnh của Mùa Chay cho đến khi chúng ta qua việc cử hành nghi thức Phụng vụ, cảm nghiệm được cuộc khải hoàn của Chúa Kitô trong Lễ Phục Sinh. Nhưng còn là đón nhận những đau khổ của đời sống Kitô hữu cho đến khi thân xác thấp hèn của chúng ta trở nên giống như thân xác vinh quang của Người (Pl 3,21).

Môsê và Êlia từ lâu đã được nhận là các ngôn sứ đại diện cho Luật lệ (Môsê) và cho các sách ngôn sứ (Êlia), hai phần chính của Kinh thánh Do thái giáo thời ấy. Vì vậy, không cần đặt câu hỏi về tính lịch sử của câu chuyện theo nghĩa đen, chúng ta cũng có thể thấy trong đó một ý nghĩa mang tính biểu tượng: đây là Luật lệ và các Tiên tri (Sách Cựu ước và Giao ước cũ) trò chuyện với Chúa Giê-su (sách Tân Ước và Giao ước mới).

Phêrô, luôn háo hức nói hoặc làm điều gì đó – mặc dù không phải lúc nào cũng có sự cân nhắc đầy đủ trước – đã hiểu sai ý nghĩa của ngày hôm nay: Phêrô xem Chúa Giêsu như một trong các vị tiên tri, ngang hàng với “những người vĩ đại” trước đó của lịch sử cứu rỗi, Môsê và Êlia. Do đó, ba “lều” (nghĩa đen là “nhà tạm” của Giao ước cũ), mỗi người một lều.

Phêrô có vài hiểu biết về danh tính của Chúa Giêsu tại thời điểm này nhưng chưa nắm bắt được toàn bộ sự độc nhất của Chúa Giêsu, Đấng là Con Một Thiên Chúa: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Híp-ri 1:1–2). Mặc dù Môsê và Êlia là những nhà tiên tri vĩ đại, nhưng họ không thể nào sánh được với Đấng cuối cùng đã đến.

Trong một Phúc âm khác, một trong các tông đồ đã nhìn thấy Chúa Giêsu biến hình đã nhấn mạnh đến sự độc nhất của Chúa Giêsu với tư cách là Đấng bày tỏ Thiên Chúa Cha cách rõ ràng hơn bất cứ ngôn sứ và những người thánh thiện nào trước đó:

Ngôi Lời đã trở nên người phàm và ngự giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật… Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết (Gioan1:14–18). Khi câu chuyện về Sự Biến Hình tiếp tục, chính Thiên Chúa Cha chỉnh sửa ý tưởng tốt nhưng sai lầm của Phêrô về việc đặt Đức Kitô ngang hàng với các ngôn sứ / tiên tri của Giao Ước Cũ:

[Phêrô] còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

Những lời của Chúa Cha từ đám mây được lặp lại ít nhất hai đoạn văn quan trọng từ Cựu Ước. Đoạn thứ nhất là từ Thánh vịnh 2, bài thánh ca đăng quang hoàng gia, có lẽ được hát khi một người Con trai mới của Đavít tiến đến ngai của vua Đa-vít ở Giê-ru-sa-lem, công bố vinh quang của giao ước Đavít trong câu 7: “Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của CHÚA, Người phán bảo tôi rằng : ‘Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con.’”

Lời của Thiên Chúa Cha nhắc nhở chúng ta Chúa Giêsu là vua của vương quyền Đavít, rằng Người là Đấng thừa kế vương quyền, như các con vua Đavít ngày xưa, vì họ cũng được ban cho đặc ân làm con Thiên Chúa (xem 2 Sam 7:14). Nhưng Chúa Giêsu vượt trội các con trai trước của Đa-vít, bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa không chỉ bởi giao ước mà còn bởi chính bản chất của Ngài.

Thứ hai, khi dùng cụm từ “Con Ta yêu dấu,” Thiên Chúa Cha gợi lại hình ảnh của I-xa-ác trong sách Sáng thế chương 22. Ba lần trong chương đó, I-xa-ác được gọi là ben yahid, của Áp-ra-ham, “con duy nhất”. Bản Septuagint (Bản 70) dịch là huios agapetos, “con trai yêu dấu.” Cụm từ này nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu là I-xa-ác mới, giống như I-xa-ác trong sách Sáng thế chương 22, ông vác củi trên vai lên núi để hiến dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa, vâng phục ý của cha mình. Núi Biến Hình vì thế, hướng về Núi Sọ.

Sự độc nhất vô nhị của Chúa Giêsu với tư cách là Đấng Trung Gian giữa Chúa Cha và nhân loại được nhấn mạnh lần cuối bởi việc sau khi ngã sấp xuống đất, các môn đệ ngước mắt lên và “không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi”. Người Con Một và duy nhất là Đấng Trung gian độc nhất vô nhị, không ai có thể thay thế

Sự Biến Hình cũng được liên kết với chủ đề “cuộc hành trình” mà chúng ta đã quan sát trong các bài đọc khác, mặc dù chúng ta phải mượn từ trình thuật của Luca để thấy được mối liên hệ. Trong Lu-ca 9:31, Thánh Lu-ca chỉ rõ rằng Môsê và Êlia đang thảo luận với Chúa Giê-su về cuộc “xuất hành” sắp tới của Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Ngay ngày hôm sau, Chúa Giê-su nói với các môn đồ về Cuộc khổ nạn sắp tới của ngài (Luca 9:44), và ngay sau đó Ngài “hướng về Giê-ru-sa-lem” (9:51) và bắt đầu cuộc hành trình cuối cùng của Ngài. Do đó, Lu-ca chương 10–19 (nói chung) được các học giả gọi là “Bản tường thuật về hành trình” bởi vì trong suốt thời gian này, Chúa Giêsu đang hành trình từ Ga-li-lê về phía nam, đến Giê-ru-sa-lem để thực hiện “cuộc xuất hành” của Ngài.

Trong thời gian còn lại của Mùa Chay, chúng ta cùng với Chúa Giêsu trong cuộc hành trình cuối cùng của Người tiến về đau khổ, nhục nhã, cái chết… nhưng cuối cùng là vinh quang. Tuần này chúng ta hãy tự khích lệ mình với ý nghĩ rằng Chúa Giêsu biến hình là hình ảnh vinh quang của sự thánh thiện đang chờ đợi chúng ta vào cuối Mùa Chay và cuối hành trình của cuộc đời. Miễn là chúng ta sẵn sàng chấp nhận những khó khăn cần thiết, để sự thánh thiện phát triển trong cuộc đời chúng ta. -- Dr. John Bergsma