Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời (Khải huyền 1:18)

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ (chương 1)

9 Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su. Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pát-mô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su. 10 Tôi đã xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đằng sau tôi có một tiếng lớn như thể tiếng kèn 11a nói rằng : “Điều ngươi thấy, hãy ghi vào sách và gửi cho bảy Hội Thánh.” 12 Tôi quay lại để xem tiếng ai nói với tôi. Khi quay lại, tôi thấy bảy cây đèn vàng. 13 Ở giữa các cây đèn, có ai giống như Con Người mình mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng.

17 Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy. Người đặt tay hữu lên tôi và nói : “Đừng sợ ! Ta là Đầu và là Cuối. 18 Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời ; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ. 19 Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này.”

----------

Một phần của lời chú giải của Dr. Brant Pitre cho bài đọc hai của ngày Chúa nhật thứ II, Mùa Phục sinh.

Khi Gioan nghe lệnh truyền hãy viết xuống thị kiến, ngài quay lại để nghe xem người đang nói với mình là ai. Và ngài nói:

Tôi quay lại để xem tiếng ai nói với tôi… (Kh 1,12)

Khi quay lại nhìn, ngài thấy thị kiến này. Nếu bạn tìm cách giải thích thị kiến này theo nghĩa đến, bạn sẽ có một hình ảnh rất quái dị về Đức Kitô. Tôi đôi khi thử thách các học trò của tôi hãy đọc sách Khải huyền và thử vẽ nó ra. Một điều không thể làm được. Bạn sẽ có những hình ảnh rất kỳ quặc nếu bạn theo những từ ngài dùng và vẽ chúng ra trên một trang giấy.

Đó là vì chúng ta không nên hiểu nó theo nghĩa đen. Những thứ mà Gioan đang nhìn thấy là những hình ảnh có tính chất biểu tượng; chúng là biểu tượng cho những thực tại khác. Ngài nhìn thấy những thứ này, nhưng chúng là biểu tượng của những thứ khác.

Và bạn thực sự có thể thấy điều này ngay trong điều đầu tiên ngài nói:

…Tôi thấy bảy cây đèn vàng…

Hãy dừng một chút ở đây. Dù bạn và tôi khi nghe những lời ấy, có thể là đang tưởng tưởng bảy cây đèn cây hoặc bảy chiếc đèn dầu, cho những người Do thái giáo trong thể ký thứ nhất, khi bạn nói về cây đèn vàng, điều trước tiên đến với tâm trí họ là cây đèn có bảy nhánh của cây đèn menorah ở trong Đền thờ. Trong sách Xuất hành chương 25 có nói về nó. Chúa ra lệnh cho dân Israel dựng nên một chân đèn bảy nhánh, trong tiếng Do Thái được gọi là menorah. Menorah là chân đèn chiếu sáng nơi cung thánh trong nhà tạm cổ của Mô-se và sau đó là trong Đền thờ Sa-lô-môn xây lên.

Vì vậy, khi Gioan quay lại nhìn, ngài thấy cây đèn có bảy nhánh bằng vàng … đối với người Do Thái thế kỷ thứ nhất, điều đó có nghĩa là Gioan đang ở trong Đền thờ. Đó là nơi duy nhất người ta có thể nhìn thấy menorah, là trong Đền thờ, chân đèn có bảy nhánh.

Thật vậy, thậm chí cho đến ngày nay, bạn có thể nghĩ, “Chà, đợi đã. Tôi đã đến nhà những người bạn Do Thái giáo và họ có một menorah trong nhà.” Bạn thấy đúng, nhưng đó là tám nhánh, không phải bảy. Cây bảy nhánh được dành riêng cho Đền thờ.

Chúng ta sẽ tạm dừng về điểm này ở đây; chúng ta sẽ quay lại điểm này. Bây giờ chúng ta xuống câu 20, tôi đọc câu cuối cùng của chương đó để giúp bạn một chút trong việc hiểu sách Khải huyền.

Khi Gioan nhìn thấy Đức Kitô và Đức Kitô nói với ngài -- Đức Kitô sẽ nói một số điều khác với ngài. Và một trong những điều cuối cùng mà Người nói – câu này không ở trong bài học hai hôm nay nhưng là điều quan trọng – Đức Kitô sẽ giải thích ý nghĩa của biểu tượng ấy. Trong câu 20, chúng ta đọc:

Đây là ý nghĩa mầu nhiệm của bảy ngôi sao ngươi đã thấy trên tay hữu Ta, và của bảy cây đèn vàng : bảy ngôi sao là các thiên thần của bảy Hội Thánh, và bảy cây đèn là bảy Hội Thánh.

Bạn hãy lưu ý ở đây… không chỉ tôi nói với bạn rằng chúng ta không hiểu những hình ảnh trong sách Khải Huyền theo nghĩa đen vì chúng mang tính biểu tượng. Chính Đức Kitô nói với Gioan, “Điều con đang thấy là một mầu nhiệm” - nói cách khác, nó chỉ đến thực tại khỏi thế giới này. Nó là dấu hiểu hữu hình chỉ về điều gì đó vô hình. Nó đại diện cho một cái gì đó khác hơn là hình ảnh của nó. Nó biểu tượng cho một cái gì đó khác với nó.

Trong trường hợp này, mầu nhiệm của cây đèn có bảy nhánh là nó đại diện cho bảy Hội Thánh. Và mầu nhiệm về bảy ngôi sao mà Chúa Giêsu đang cầm trong tay và Gioan nhìn thấy trong thị kiến, không phải là Chúa Giêsu đã gom lại bảy quả cầu khí từ vũ trụ và đặt chúng giữa lòng bàn tay của Ngài. Bảy ngôi sao, thị kiến mà Gioan nhìn thấy, đại diện cho bảy thiên thần của bảy Hội Thánh.

Và đây là một khía cạnh hấp dẫn Kitô giáo thời sơ khai. Trong Do Thái giáo vào thời Chúa Giêsu, sách Đa-ni-ên và các văn bản khác có niềm tin rằng mỗi dân tộc, mỗi quốc gia (như dân tộc Israel) có một thiên sứ đặt để cai quản, canh giữ, bảo vệ đất nước đó. Và niềm tin đó trong Giáo hội sơ khai trở thành mỗi giáo xứ (Hội thánh trong Khải huyền) và mỗi thành phố đều có một thiên thần hộ mệnh, một thiên thần bảo trợ, một thiên thần cai quản, hướng dẫn, bảo vệ nó.

Và đây là nơi - xin lỗi, tôi không thể không chia sẻ điều này. Đây là nơi chúng ta lấy ý tưởng về những thánh quan thầy cho các giáo xứ và giáo phận. Khi tôi đến giáo xứ, tôi đến giáo xứ Thánh Mác-đa-lê-na, giáo xứ Thánh Phêrô, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, v.v... Điều này bắt nguồn từ một truyền thống cổ xưa về việc chọn một vị thánh hoặc thiên thần quan thầy cho một nhóm, hoặc một giáo xứ.

Quay trở lại… chính Chúa Giêsu nói cho chúng ta rằng cây đèn là một mầu nhiệm vì vậy khi bạn quay lại đọc phần Gioan mô tả về những gì ngài nhìn thấy, hãy nhớ rằng mỗi một điều là một mầu nhiệm. Nó chỉ về một điều gì khác. Mục đích của biểu tượng là để bày tỏ / tiết lộ những sự thật ẩn dấu về Chúa là Đấng nào, Đấng Kitô là Đấng nào, và Gioan đang thấy gì. Vậy trong trường hợp này, trong thị kiến này - Gioan nhìn thấy gì? Nếu bạn quay trở lại, ngài nói:

Tôi quay lại để xem tiếng ai nói với tôi. Khi quay lại, tôi thấy…

Thứ nhất:

bảy cây đèn vàng. 13 Ở giữa các cây đèn,

Thứ hai

… có ai giống như Con Người…


Con Người là ai? Đó là nhân vật từ trời trong sách Đa-ni-en, người cưỡi trên mây và lãnh nhận vương quốc vĩnh cửu.

Thứ ba: Ngài nhìn thấy con người:

…Người mình mặc áo chùng và nang ngực có thắt đai bằng vàng…

Bản dịch RSV (clothed with a long robe and with a golden girdle) dùng từ hơi cổ ở đây. Chúng tôi thường không nghĩ girdles là thứ mà đàn ông mặc. Nghĩa đen của nó có nghĩa là một chiếc thắt đai bằng vàng, vì vậy một dải vải thắt ngang ngực. Thắt đai đó là gì? Đó là y phục của vị thượng tế. Trong Xuất hành chương 28, vị thượng tế phải mặc áo choàng dài bằng vải lanh và đeo thắt lưng vàng.

… 14 Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết…

Chà, rõ ràng là tóc Chúa Giêsu đã trở nên bạc sau khi Ngài lên Thiên đàng. Không, đây là một mầu nhiệm. Ai trong Cựu ước có tóc trắng như lông cừu? Hãy trở về sách Đa-ni-en. Đa-ni-en trong chương 7 nhìn thấy Chúa, và Đa-ni-en gọi Ngài là Đấng Lão Thành - ngồi trên ngai vàng, tóc Ngài tựa lông chiên tinh tuyền. Vì vậy, đây là biểu tượng về sự cổ xưa của Thiên Chúa – Đa-ni-en gọi Ngài là Đấng Lão Thành. Và hình ảnh này được áp dụng cho Đức Kitô. Rất thú vị.

Gioan thấy cây đèn menorah và ở giữa menorah là Con Người, Ngài nhìn như con người nhưng mang vẻ của Đấng Lão Thành? Vậy thì Ngài là Con Người hay là Đấng Lão Thành? Ngài là vị thượng tế hay Ngài là vua. Vì thế bạn phải suy nghĩ về điều này từ bí ẩn này sang bí ẩn khác qua hình ảnh được đưa ra. Và sau đó bài đọc hai bỏ qua một câu và chuyển xuống câu 17:

… Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy…

Nhưng tôi muốn trích thêm vào những câu này:

…mắt Người như ngọn lửa hồng ; 15 chân Người giống như đồng đỏ được tôi luyện trong lò ; và tiếng Người như tiếng nước lũ. 16 Tay hữu Người cầm bảy ngôi sao và từ miệng Người phóng ra một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Mặt Người toả sáng như mặt trời chói lọi.

Mỗi một hình ảnh ở đây là một mầu nhiệm, là một biểu tượng.

Và đây là mẹo cho bạn. Khi bạn đang đọc sách Khải Huyền, nếu bạn gặp một điều gì đó kỳ quặc, lạ lùng - điều mà bạn sẽ gặp, chẳng như “từ miệng Người phóng ra một thanh gươm hai lưỡi sắc bén” - điều đó không có nghĩa là Chúa Giêsu có một thanh kiếm thực sự làm bằng thép phát ra từ Ngài. Nhưng đó biểu tượng cho một mầu nhiệm. Nó là một biểu tượng của một thực tại thiêng liêng nào đó. Và trong trường hợp này, trong sách Khải Huyền, chìa khóa để mở mầu nhiệm thiêng liêng này được tìm thấy trong Cựu Ước.

Vậy câu “Người mình mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng” có nghĩa gì? Nó bày tỏ Ngài là vị Thượng tế. Khi nói, “Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết”, điều đó có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là Ngài chính là Đấng Lão Thành chứ không chỉ là Con Người. “Từ miệng Người phóng ra một thanh gươm hai lưỡi sắc bén” có nghĩa là gì? Nếu bạn quay về Isaia chương 11, ở đó có câu “Hơi miệng thở ra giết chết kẻ gian tà”, chính lời là vũ khí của Đấng Mêsia, Lời của Thiên Chúa. Và cuối cùng:

…Tay hữu Người cầm bảy ngôi sao…

Ở đây, chính Đức Kitô giải thích mầu nhiệm này. Ngài nói:

…bảy ngôi sao là các thiên thần của bảy Hội Thánh…

Vì vậy, Đức Kitô có thẩm quyền trên các thiên sứ của bảy Hội Thánh Gioan nói đến. Tôi chỉ đưa điều này cho bạn như một ví dụ để bạn đi chậm lại, tìm hiểu sách Khải Huyền và nhận ra rằng nếu bạn muốn hiểu nó, bạn phải hiểu Cựu Ước.

Với những điều đó, bạn có thể hiểu tại sao khi Gioan nhìn thấy tất cả những điều này - như thanh gươm phóng ra từ miệng và các ngôi sao trong tay Ngài và tóc Ngài trắng như len trắng, như tuyết mắt Người như ngọn lửa hồng - phản ứng của Gioan là ngã vật dưới chân Chúa Giêsu, như thể đã chết.

Điểm này thật đáng chú ý, bởi vì theo truyền thống, tác giả của Phúc âm và tác giả của sách Khải huyền cùng là một Gioan. Có một là sự khác biệt nổi bật giữa phản ứng của Gioan về Chúa Giêsu khi còn sống trên trần gian và phản ứng của Gioan đối với Chúa Giêsu trong vinh quang. Chúa Giêsu khi còn sống trong trần gian, Gioan môn đệ được yêu mến dựa vào ngực Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly. Nhưng khi Gioan Tông đồ nhìn thấy Đức Kitô Phục sinh trong quyền năng và vinh quang, thì phản ứng của Ngài không phải là dựa vào lòng Chúa Giêsu mà là ngã vật dưới chân Người, như thể chết vậy. Gioan bị choáng ngợp bởi vinh quang của Chúa Giêsu, ngài bị choáng ngợp bởi thị kiến.

Dr. Scott Hahn về ngày thứ 5 Tuần Thánh làm sáng tỏ cái chết của Chúa Giêsu trên đồi Canvê

Lời từ video:

Trong Luca chương 22, nơi chúng ta tìm thấy điểm then chốt mà những bữa tiệc này hướng về, xa khỏi bữa ăn bình thường và bữa tiệc, để là bí tích và sự hiện diện của Chúa Thánh Thể. Chúng ta có một điều mang ý nghĩa quyết định, đặc biệt với những người Công Giáo,và tôi muốn kể về những gì xảy đến với tôi 3, 4 tháng về trước.

Tôi có một tình bạn  từ mãi những thập kỷ 1970 được nhen nhóm lại với người bạn cùng lớp là Chris. Chúng tôi học chung với nhau thời trung học và tốt nghiệp cấp 3 năm 1975 và anh ấy lại là thủ khoa. Anh ấy là một người Công Giáo đi lễ ngày Chúa Nhật đều đặn. Tôi không nhớ chuyện này nhưng anh ấy quả quyết với tôi là nó thường xảy ra: trong quán ăn tự phục vụ sau một vài câu hỏi thăm, tôi đi ngay vào cuộc tranh luận rằng bạn tìm thấy Tân Ước nói về hy tế của Thánh Lễ ở đâu? (Scott Hahn chưa phải là Công Giáo lúc này).

Gần đây Chris kể lại câu chuyện này cho tôi vì khoảng 8 năm về trước, chúng tôi gặp lại nhau lần đầu tiên ở phi trường sau vài chục năm. Anh ta nói: “Scott, anh sẽ vui mừng khi biết tôi bây giờ là người Tin Lành/evangelical Bible Christian. Và tôi nói: “Chris, tôi không biết bạn có vui không khi biết rằng tôi là người tin vào Tin Mừng Công giáo/Evangelical Bible Catholic.” Thật hơn cả hết sức kinh ngạc nên chúng tôi phải tìm chỗ ngồi và trao đổi khoảng 10 phút. Tôi phải nói sự thật về tôi trong khoảng thời gian ấy. Cuối cùng, chúng tôi trao đổi danh thiếp và từ lúc này bắt đầu gọi điện cho nhau tuy không đều đặn. Để tóm tắt câu chuyện, tôi chia sẻ với Chris những điều mà các giáo phụ chia sẻ với tôi qua các bài tôi đọc và cùng với họ là nhà thần học gia nọ mà tôi bắt đầu nghiên cứu cách kỹ lưỡng. Tên nhà thần học gia ấy là Ratzinger. Có lẽ các bạn đã nghe về ông ấy (ĐTC Benedictô).

Khoảng 27 năm về trước tôi bắt đầu ngấu nghiến những tác phẩm của người này và tôi bị đánh động vì điều ĐTC Benedictô nói trùng hợp với những gì tôi đọc nơi các giáo phụ.

ĐTC Benedictô đưa ra một điểm mà đối với tôi là điểm quyết định. Vấn đề là bạn tìm thấy ở đâu trong Tân Ước nói về hy tế của Thánh Lễ? Các anh em Kitô hữu, không phải là Công Giáo, sẽ không nêu ra Thánh Lễ là hy lễ nhưng họ sẽ chỉ về đâu? Đồi Canvê. Đồi Canvê là hy lễ. Và chúng ta có bất đồng với nhau về điều đó không? Dĩ nhiên không. Đồi Canvê không chỉ là hy lễ mà còn là hy lễ tối cao của mọi thời điểm.

Nhưng ĐTC Benedictô là người đã nêu ra điểm hiển nhiên mà tôi chưa nghĩ đến trước đây khi ĐTC chỉ ra rằng không một ai ở đồi Canvê hôm ấy, ngày thứ Sáu Tuần Thánh, về nhà và mô tả cảm nghiệm của họ với từ ngữ hy lễ. Tại sao không? Vì nó xảy ra bên ngoài thành Giêsusalem. Nó xảy ra xa khỏi Đền Thờ, nơi không có bàn thờ, không có vị tư tế nào trong y phục của người tư tế, không có hy lễ nào cả. Điều mà họ sẽ tường thuật khi trở về nhà ngày hôm ấy sẽ không gì hơn là một việc xử tử của người Rôma, đơn giản và rõ ràng chỉ là thế. Một cuộc xử tử tàn bạo nữa.

Vì thế câu hỏi cho tôi và cho Chris là qua cách nào mà một cuộc xử tử của người Rôma bỗng nhiên được biến đổi thành một hy tế mà mọi Kitô hữu, Công Giáo và Tin Lành, cùng đồng ý. Một hy lễ tối cao mà sẽ làm cho những dâng tiến súc vật không còn cần thiết nữa. Và tôi đã ép bức Chris như ĐTC Benedictô đã ép bức tôi.

Đây không là một điều dễ trả lời nhất là, nếu chúng ta nhớ, hầu hết những người tín hữu đầu tiên là những người Kitô hữu từ Do-thái giáo. Họ không có phương cách nào để biến đổi một vụ xử tử của người Rôma thành một hiến tế tối thượng. Tôi nêu ra cho Chris một lần nữa điều mà ĐTC Benedictô đã chỉ cho tôi, đó là điều này xảy ra từ  rất sớm.

Qua tác động của Chúa Thánh Thần và lời dạy của các tông đồ như chúng ta đã tìm thấy, có lẽ là tại thời điểm sớm nhất chúng ta tìm thấy trong thư thánh Phaolô gửi các tín hữu ở Côrintô, trong 1 Côrintô 5:7. Và Thánh Phaolô tuyên xưng Đức Kitô là gì? Con Chiên Vượt Qua đã được hiến tế vì chúng ta. Vì thế chúng ta hãy giữ ngày lễ này.

Trong những chương sau đó, từ chương 6 đến chương 11, Thánh Phaolô tiếp tục giải nghĩa ngày lễ với hình ảnh mà chúng ta nhận ra là Bữa tiệc Thánh Thể, Thánh Lễ, nhất là chương 11. Đức Kitô, Con Chiên Vượt Qua của chúng ta đã được hiến tế là điều thật sự mở mắt tôi để tôi thấy rằng cách duy nhất mà Giáo Hội tiên khởi có thể nhìn thấy một cuộc xử tử là một hy tế trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh, đó là nhờ việc quay trở lại, một bước nhảy lớn và nhìn vào điều xảy ra ngày thứ Sáu Tuần Thánh trong ánh sáng của những gì Chúa Giêsu làm trong ngày thứ Năm.

Chúa Giêsu đã làm gì ở Lầu trên với các môn đệ trong ngày thứ Năm Tuần Thánh? Ngài cử hành Lễ Vượt Qua của Cựu Ước lần cuối cùng. Nhưng đó không là tất cả mọi sự Ngài làm. Ngài làm ứng nghiệm sứ vụ Con Chiên và thay thế  Lễ Vượt Qua [của Cựu Ước] nhưng  không chỉ có thế, Ngài còn biến đổi cái cũ thành cái mới.

Lễ Vượt Qua của dân Israel từ thuở xưa trở nên Lễ Tạ Ơn (Thánh Thể) của Giao Ước Mới. Vì thế, các môn đệ trong khi đang trải nghiệm nghi lễ quen thuộc mà họ đã biết từ tuổi thơ, bỗng nhiên một sự gì khác biệt, ngoài nghi thức đang diễn ra. Ngài nói gì vậy? “Đây là mình Thầy sẽ được trao ban cho các con.” Lời này đã được viết xuống ở đâu chưa? Chưa. Ngài vừa mới thêm nó vào. “Đây là mình Thầy sẽ được trao ban cho các con.” Loại văn nào đang được chèn vào đây? Và gần cuối bữa tiệc họ nghe một điều khác. “Đây là chén máu của Thầy, máu của Giao Uớc Mới. Giao Uớc Mới có thể được dịch là Tân Ước. Từ “diathéké” trong Hy-lạp có thể được dịch “Giao ước mới” hay “Tân Ước.” Máu của Giao Ước mới, Tân Ước, được đổ ra cho nhiều người được tha tội. Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta.”

Một lần nữa, các môn đệ thắc mắc và tự hỏi Ngài đang nói gì vậy? Ngài đang làm gì? Lối nói mới này là gì? Nghi thức mới được thêm vào này là gì? Và tôi nghĩ khi họ xong đêm ấy và đi với Chúa Giêsu vào vườn Ghếtsêmanê, họ vẫn thắc mắc. Tôi nghĩ họ không nhận ra được điều Chúa Giêsu thực sự đang nói hay làm ngay cả ngày hôm sau. Chỉ nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, họ mới nhận ra Ngài không chỉ cộng thêm chút lời, hay chút nghi thức. Ngài nói điều Ngài muốn nói, và Ngài muốn điều Ngài nói: “Đây là mình Thầy sẽ được trao bạn cho các con.” Đó là cách Ngài ứng nghiệm Lễ Vượt Qua của Cựu Ước như là Con Chiên đích thực.

Đó là cách Ngài biến đổi nó thành Lễ Vượt Qua của Tân Ước qua việc thành lập bí tích Thánh Thể. Vì thế, khi Ngài nói: “Đây là chén máu của Thầy, máu của Giao Ước Mới, của Tân Ước.” Chén rượu không còn là rượu nữa, giờ đây chính Đức Kitô hiện diện trong chén ấy.

Với sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần, những tín hữu tiên khởi nhận ra rằng Lễ Tạ Ơn, hay Thánh Lễ đã biến đổi thứ Sáu Tuần Thánh từ chỉ là cuộc xử tử để trở thành đích điểm và đỉnh cao của Giao Ước Mới. Tôi nói với bạn: Nếu Thánh Lễ đầu tiên không là một hy tế, thì đồi Canvê chỉ là một cuộc xử tử. Chỉ khi nhận ra Thánh Lễ đầu tiên là hy tế, chúng ta mới có thể hiểu niềm tin của thế hệ đầu tiên mà đã biến đổi đồi Canvê thành hy tế tối cao, hoàn tất mọi hiến dâng của súc vật trước đó.

Thánh Thể là điều biến đổi đồi Canvê thành hy tế. Một hy tế không thể tách rời được và cùng là một sự tự hiến dâng, cũng như thứ Năm Tuần Thánh biến đổi thứ Sáu Tuần Thánh từ một cuộc xử tử tàn bạo để trở thành một hy tế của Thiên Chúa.

Tôi muốn đưa ra điều này là Chúa Nhật Phục Sinh chính là điều biến đổi hy tế thành một bí tích, điều mà các tông đồ với quyền năng của Chúa Thánh Thần có thể thực hiện để nhớ đến Chúa Giêsu vì Ngài chính là Đấng thực sự hiện diện trong Thánh Lễ. Đó không phải là thân xác bị đánh nát của xác Chúa Giêsu treo trên cây thập tự, thở hổn hển và cuối cùng trút hơi thở.

Đó là cùng một hy tế, một thân thể, chỉ là lần này là thân xác phục sinh của Chúa Kitô, thân xác được lên trời, được làm vinh quang, được tôn vinh là Thiên Chúa, tính loài người thần thiêng của Chúa Kitô đang hiện diện trong các Nhà Tạm, trên bàn thờ, và trên lưỡi chúng ta khi chúng ta đón nhận Lễ Vượt Qua thần thánh này, hy tế Vượt Qua này. Chính là vì đó là Lễ Vượt Qua, chúng ta không cần phải suy nghĩ đó có phải là một hy tế, hay một bữa tiệc. Bởi vì Vượt Qua trong cả Cựu Ước và Tân Ước là gì? Nó là bữa tiệc, những bữa tiệc là nghĩa thứ hai. Trước hết và trên hết mọi sự, đó là hy tế và được lệnh truyền để là sự hiệp thông hy tế của Bữa tiệc Vượt Qua.

Vì thế Luca 22, khi đưa ra cho chúng ta việc thành lập bí tích Thánh Thể, đó là điều rọi sáng mầu nhiệm cây Thánh giá, bày tỏ cho chúng ta rằng Chúa Giêsu không chỉ là nạn nhân của bạo lực và bất công của Rôma, Ngài là hy lễ của tình yêu Thiên Chúa. Ngài không bị giết chết trong ngày thứ Sáu mà thực ra Ngài trao ban chính mình cho họ và cho chúng ta trong ngày thứ Năm. Và Ngài đã làm điều ấy.

Hay như Thánh Tôma Aquinô có nói, không phải vì những đau khổ Ngài chịu đựng trên cây thập tự mà đã cứu chúng ta. Trái lại vì Ngài yêu thương biết dường nào vì sự đau khổ, chính nó, không đủ. ĐTC Benedictô cũng có những lời tương tự: “Đau khổ mà không có tình yêu thì không thể chịu đựng nổi. Nhưng tình yêu mà không có đau khổ thì chỉ là lời nói suông hay chỉ là cảm xúc.”

Chúng ta bộc lộ tình yêu cách nào? Chúng ta chứng tỏ tình yêu cách nào? Bằng cách nào chúng ta hoàn hảo và thanh luyện tình yêu? Qua đau khổ. Và tình yêu làm gì cho sự đau khổ? Nó biến đổi đau khổ thành một hiến tế, một hy lễ. Sự dâng hiến của Chúa Kitô, sự tự hiến chính mình trong bí tích Thánh Thể mà Luca mô tả trong chương 22 chính là điều biến đổi sự tàn bạo và bạo lực của đau khổ của Chúa Giêsu khi Ngài gánh lấy chúng trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh thành hy tế thánh thiện trên mọi hy tế.

Nhưng hy tế mà Ngài dâng hiến không phải là vì thế mà chúng ta không cần dâng hiến hy tế, những chính là hy tế mà Ngài đã dâng hiến để chúng ta cũng có thể dâng hiến hy tế của chúng ta. Bằng việc đón nhận Thánh Thể trong tình yêu chúng ta có thể dâng hiến những đau khổ hèn mọn của chúng ta và kết hiệp chúng với hy lễ cứu chuộc của Chúa Kitô.

Một số các bạn là người Công Giáo từ khi sinh ra đã chia sẻ với tôi qua năm tháng rằng bạn biết nếu bạn dập đầu ngón chân hay trễ xe buýt, bạn biết câu mà mẹ bạn sẽ nói với bạn trong bầu khí gia đình Công giáo (đời sống đức tin trong gia đình cũng là một nghi thức, một phụng vụ), “dâng lên cho Chúa” và bạn biết đó không chỉ là một câu nói đạo đức.

Đó là mầu nhiệm Thánh Thể vì tình yêu chúng ta đón nhận trở thành tình yêu của chính chúng ta. Những đau khổ chúng ta gánh chịu có thể được biến đổi bởi tình yêu ấy để trở thành một lễ hy sinh. Và nhờ quá trình đó, chúng ta có khả năng, không chỉ để thắng cuộc tranh luận với người không Công giáo nhưng để thắng anh chị em chúng ta cho Đức Kitô, để chỉ cho họ rằng Thánh Lễ phải là một hy tế vì nếu không, đồi Canvê chỉ là một cuộc xử tử.

Chúa xuống âm phủ

Trích từ Bài đọc 2 của Kinh Sách cho ngày thứ Bảy Tuần Thánh

Trích một bài giảng cổ về ngày thứ Bảy Tuần Thánh.

Thế này là thế nào? Hôm nay cõi đất chìm trong thinh lặng. Thinh lặng như tờ và hoàn toàn thanh vắng. Thinh lặng như tờ vì Đức Vua đang yên giấc. Cõi đất kinh hãi lặng yên vì Thiên Chúa đã ngủ say trong xác phàm.

Thật vậy, trước hết Người đi tìm nguyên tổ như tìm con chiên lạc. Người muốn tới viếng thăm những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần. Thiên Chúa cũng là Con của A-đam đến giải thoát ông A-đam bị giam cầm, cùng với bà E-và, cho khỏi mọi nỗi đớn đau.

Chúa tiến đến với hai ông bà, tay cầm vũ khí chiến thắng là thập giá. Thoạt trông thấy Người, nguyên tổ A-đam sững sờ, đấm ngực và lớn tiếng kêu lên với mọi người rằng: Chúa của tôi ở với mọi người. Đức Ki-tô trả lời ông A-đam rằng: Và ở cùng thần trí ngươi. Người cầm lấy tay, lay ông dậy và nói: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi.

Ta là Thiên Chúa của ngươi, mà vì ngươi Ta đã thành con của ngươi; giờ đây vì ngươi và vì những kẻ do ngươi sinh ra, Ta phán, và dùng quyền ra lệnh cho những kẻ đang bị xiềng xích: Hãy ra khỏi đây!, cho những ai đang ngồi nơi tăm tối: Bừng sáng lên!, cho những kẻ đang ngủ mê: Hãy trỗi dậy!

Ta truyền cho ngươi: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Ta đâu dựng nên ngươi để ngươi bị giam cầm trong cõi âm ty! Trỗi dậy đi nào, từ chốn tử vong! Ta là sự sống của những kẻ chết. Trỗi dậy đi, hỡi công trình tay Ta nhào nặn! Trỗi dậy đi, hỡi hình tượng của Ta, đã được dựng nên giống hình ảnh Ta! Trỗi dậy đi nào, chúng ta ra khỏi đây! Ngươi ở trong Ta và Ta ở trong ngươi. Chúng ta chỉ là một và bất khả phân ly.

Vì ngươi mà Ta vốn là Thiên Chúa của ngươi, đã thành con của ngươi. Vì ngươi mà Ta đang là Chúa, đã mang lấy hình hài nô lệ của ngươi. Vì ngươi mà Ta đang ngự trên trời, đã đến trần gian và đi vào lòng đất. Vì ngươi là người, mà Ta đã thành con người không được ai săn sóc đỡ đần giữa bao kẻ chết. Vì ngươi đã ra khỏi vườn, mà Ta bị nộp cho người Do-thái ở ngoài vườn và bị đóng đinh trong vườn.

Hãy nhìn xem nước miếng người ta khạc nhổ trên mặt Ta. Vì ngươi, Ta đã đón nhận, để trả lại cho ngươi sinh khí trước kia ngươi đã lãnh nhận. Hãy nhìn xem những cái vả trên má Ta, Ta đã hứng chịu, để phục hồi gương mặt hư hỏng của ngươi cho giống với hình ảnh của Ta.

Hãy nhìn xem những đòn vọt trên lưng Ta, Ta đã hứng chịu, để cất gánh tội đè nặng trên lưng ngươi. Hãy nhìn xem tay Ta bị đóng đinh chặt vào cây gỗ, vì có lần ngươi đã đưa tay hướng về cây gỗ mà phạm tội.

Ta đã thiếp đi trên thập giá và lưỡi đòng đã đâm thủng cạnh sườn Ta, vì ngươi đã ngủ say trong vườn địa đàng và đã cho E-và phát xuất từ cạnh sườn ngươi. Cạnh sườn của Ta đã chữa lành sự đau đớn của cạnh sườn ngươi. Giấc ngủ của Ta kéo ngươi ra khỏi giấc ngủ trong cõi âm ty. Lưỡi đòng đâm Ta đã ngăn chặn lưỡi đòng đang nhắm vào ngươi.

Nào trỗi dậy, chúng ta đi khỏi đây. Kẻ thù đã kéo ngươi ra khỏi vườn địa đàng. Phần Ta, Ta không đặt ngươi trong vườn địa đàng nữa, mà đặt lên ngai trên trời. Kẻ thù đã ngăn chặn ngươi không cho đến gần cây ban sự sống. Nhưng nay Ta là sự sống, Ta liên kết với ngươi. Ta đã đặt các Kê-ru-bim làm đầy tớ canh giữ ngươi. Ta truyền cho các Kê-ru-bim phải thờ lạy ngươi sao cho xứng với một vì Thiên Chúa.

Ngai Kê-ru-bim đã sửa soạn, người khiêng ngai đã túc trực sẵn sàng, phòng loan đã làm xong, cỗ bàn đã dọn, nơi cư ngụ muôn đời đã được trang hoàng lộng lẫy, kho tàng ân phúc đã rộng mở và Nước Trời từ muôn thuở nay đã sẵn sàng.

Giá trị của máu Đức Ki-tô

Trích từ Bài đọc 2 của Kinh Sách cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh

Trích bài giáo huấn của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục.

Bạn muốn nghe nói về giá trị của máu Đức Ki-tô ư? Chúng ta hãy trở về với hình ảnh báo trước, nhớ lại mẫu cũ, cùng kể lại chuyện xưa về máu.

Ông Mô-sê đã nói : Anh em hãy giết con chiên một tuổi và lấy máu bôi lên cửa. Thưa ông Mô-sê, ông nói gì vậy? Phải chăng máu chiên vẫn cứu thoát được con người có lý trí? Ông bảo : Được lắm, nhưng không phải vì nó là máu chiên mà vì là hình ảnh máu Chúa. Vậy giờ đây, nếu thay vì thấy máu chiên bôi lên bậu cửa, kẻ thù lại thấy máu Đức Ki-tô đỏ thắm nơi miệng các tín hữu là cửa đền thờ đích thực, thì ắt nó phải chạy trốn cho nhanh.

Bạn có muốn khám phá giá trị khác của máu này nữa không? Tôi muốn bạn nhìn kỹ xem máu đó trước tiên từ đâu chảy ra và phát xuất từ nguồn mạch nào. Trước hết, máu đó từ chính thập giá tuôn ra, bắt nguồn từ cạnh sườn của Chúa. Quả vậy, như Tin Mừng nói, khi Đức Giê-su đã chết, còn treo trên thập giá, thì một người lính đến gần, lấy đòng đâm cạnh sườn Người và từ đó nước cùng máu chảy ra. Nước tượng trưng phép rửa, máu tượng trưng thánh lễ. Người lính đã mở cạnh sườn của Chúa : anh đã chọc thủng bức tường đền thánh, còn tôi, tôi đã tìm được kho tàng quý giá và lấy làm vui vì đã chiếm được trân châu bảo ngọc. Về con chiên cũng vậy : người Do-thái xưa đã giết chiên, còn tôi đã được hưởng hiệu quả của lễ tế.

Từ cạnh sườn Người, máu cùng nước chảy ra. Hỡi bạn thính giả, tôi không muốn bạn dễ dàng lướt qua các bí mật của mầu nhiệm cao cả như thế. Quả thật, tôi còn một điều thần bí và ẩn tàng phải nói. Tôi đã nói nước và máu là biểu tượng của phép rửa và thánh lễ, từ đó Hội Thánh được xây dựng qua việc tái sinh và canh tân của Thánh Thần, tức là qua phép rửa và thánh lễ. Cả hai, có thể nói, đã phát xuất từ cạnh sườn của Đức Ki-tô. Vậy từ cạnh sườn mình, Đức Ki-tô đã xây dựng Hội Thánh, cũng như từ cạnh sườn của ông A-đam đã phát xuất bà E-và, bạn đời của ông.

Vì lẽ đó, thánh Phao-lô cũng muốn nói đến cạnh sườn Chúa khi quả quyết rằng : Chúng ta bởi thân thể và xương cốt của Người. Cũng như Thiên Chúa đã làm nên người phụ nữ từ cạnh sườn của ông A-đam, thì Đức Ki-tô cũng lấy nước và máu từ cạnh sườn Người mà điểm tô Hội Thánh. Cũng như Thiên Chúa đã mở cạnh sườn ông A-đam khi ông đang ngủ say, thì sau khi Đức Ki-tô tắt thở, Người cũng ban cho chúng ta nước và máu như vậy.

Anh em hãy xem Đức Ki-tô đã kết hợp hiền thê với mình như thế nào, hãy xem Người nuôi dưỡng chúng ta nhờ của ăn nào. Chúng ta được sinh ra nhờ của ăn nào thì cũng được nuôi dưỡng bằng của ăn ấy. Cũng như người mẹ do tình thương tự nhiên thúc đẩy, sẵn sàng nuôi con bằng sữa và máu của mình, thì Đức Ki-tô cũng luôn lấy máu mình mà nuôi những kẻ Người đã tái sinh như vậy.

Con Chiên chịu sát tế đã cứu chúng ta khỏi chết và đưa chúng ta đến sự sống

Từ bài đọc 2 của Kinh Sách cho ngày Thứ Năm Tuần Thánh

Trích bài giảng của đức cha Mê-li-ton, giám mục Xác-đê, về mầu nhiệm Vượt Qua.

Các ngôn sứ đã nói trước nhiều điều về mầu nhiệm Vượt Qua là Đức Ki-tô. Xin tôn vinh Người đến muôn thuở muôn đời. A-men. Chính Người đã từ trời xuống thế vì con người đau khổ. Người đã mặc lấy con người đó trong lòng Đức Trinh Nữ và đã sinh ra làm người. Người đã hứng chịu những nỗi đau khổ của con người đau khổ trong thân xác phải đau khổ, và đã tiêu diệt những đau khổ của thân xác. Người đã lấy tinh thần không thể chết mà giết cái chết giết người.

Người đã bị điệu đi như chiên và bị giết như cừu. Người đã cứu chuộc chúng ta khỏi làm tôi thế gian như khỏi Ai-cập. Người đã giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ ma quỷ như khỏi tay Pha-ra-ô. Người đã dùng Thần Khí của Người mà đóng ấn vào linh hồn chúng ta, và lấy máu mình mà đóng ấn vào các chi thể trong thân xác chúng ta.

Chính Người đã làm cho sự chết phải xấu hổ và khiến ma quỷ phải rên la như ông Mô-sê đã làm cho Pha-ra-ô. Chính Người đã trừng phạt sự gian ác và bất công như ông Mô-sê đã lên án cho Ai-cập phải khô cằn.

Chính Người đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ để được tự do, khỏi bóng tối mà vào ánh sáng, khỏi phải chết mà được sống, khỏi ách bạo chúa mà vào vương quốc vĩnh cửu, và làm cho chúng ta thành hàng tư tế mới, thành dân được tuyển chọn, tồn tại đến muôn đời. Chính Người là Chiên Vượt Qua đem lại cho chúng ta ơn cứu độ.

Chính Người đã gánh chịu bao đau khổ nơi nhiều người : Người bị giết trong ông A-ben, bị trói trong ông I-xa-ác, phải lưu lạc nơi ông Gia-cóp, bị bán nơi ông Giu-se, bị bỏ ngoài bờ sông nơi ông Mô-sê, bị giết trong con chiên, bị truy nã nơi vua Đa-vít và bị sỉ nhục nơi các ngôn sứ.

Chính Người đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ, bị treo trên thập giá, bị chôn vùi trong lòng đất, rồi từ trong kẻ chết trỗi dậy mà lên trời cao thẳm.

Chính Người là con chiên không kêu một tiếng, là con chiên bị giết, sinh ra từ chiên mẹ xinh đẹp là Đức Ma-ri-a. Người là con chiên được lấy ra trong bầy để mang đi giết, bị sát tế vào buổi chiều, rồi ban đêm được mai táng. Trên thập giá, Người không bị đánh giập ống chân ; dưới lòng đất, Người không bị tiêu tan. Người đã trỗi dậy từ trong kẻ chết và làm cho con người trong mồ sâu sống lại.

Thứ Bảy Tuần Thánh

Ảnh: Chúa xuống ngục tổ tông, giải thoát A-đam và E-và đang trong ngồi trong bóng tối u sầu. Trong icon này, ma quỷ bị trói dưới chân Chúa Giêsu. Cây thánh giá đã đập tan tành cửa hỏa ngục, mọi mưu kế của nó đã bị cây thánh giá đập tan ra thành mảnh nhỏ. Ai tin vào Chúa Giêsu Kitô, sẽ không bị giam cầm bởi sự chết nữa. Sự chết chẳng còn làm chủ họ được nữa.

Tóm tắt từ bài thuyết trình của Dr. Brant Pitre

Chúa Giêsu đã làm gì trong ngày thứ bảy Tuần thánh? Bạn nghĩ Chúa đã chết, Ngài chỉ nằm trong mồ. Nhưng đừng quá vội. Chúng ta hãy xem xét chốc lát.

Chúa Giêsu là người thật, Ngài thực sự chết nằm trong mồ. Gioan 19:40-41 nói, “Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.”

Chúng ta tự hỏi tại Chúa Giêsu nằm trong mồ trong ngày thứ bảy? Về mặt thực tế, đó là điều họ phải làm vì cho người Do thái, ngày mới bắt đầu khi mặt trời lặn. Vì thế, ngày Sabát bắt đầu tối thứ sáu và khi mặt trời lặn, người ta không được phép làm bất cứ việc gì. Những người của Chúa đặt Ngài trong mộ trước khi mặt trời lặn và họ không thể quay trở lại để làm sự gì cả cho đến ngày sáng ngày Chúa nhật.

Nhiều lúc người Công giáo nghĩ Chúa nhật là ngày Sabát nhưng Chúa nhật không là ngày Sabát. Đối với người Do thái, ngày Sabát là ngày thứ 7 của tuần và đó là ngày nghỉ ngơi nên họ không thể làm gì với thân xác Chúa cả. Sáng Chúa nhật, lúc trời còn tối thì các bà sẽ ra mồ. Về mặt thiêng liêng, Chúa Giêsu thi hành luật Sabát ngay cả khi Ngài chết. Ngài vâng theo luật nghỉ ngơi.

Nhưng linh hồn Ngài làm gì trong ngày thứ bảy Tuần Thánh? Ngài xuống ngục tổ tông. Đây là một tín điều trong Kinh Tin Kính. Tôi sẽ trích một đoạn từ Giáo Lý Hội thánh Công giáo:

“634. “Tin Mừng cũng được loan báo cho cả kẻ chết..." (1 Pr 4,6). Việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông hoàn tất cách sung mãn việc rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Mê-si-a của Đức Giê-su, tuy diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi. Như vậy, tất cả những kẻ được cứu độ đều do Đức Ki-tô.”

Đức Kitô đi vào chốn sâu thẳm để những kẻ đã chết sẽ nghe được tiếng của Con Thiên Chúa và những ai lãnh nhận sẽ có sự sống đời dời.

Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông như Đấng Mêsia, đem ơn cứu độ Ngài đã chiến thắng cho nhân loại trên cây thánh giá đến với các linh hồn của Cựu Ước, những kẻ sống chính trực và những người thánh thiện của Cựu Ước. Nếu không có Ngài, làm sao họ được cứu độ? Chúa đem ơn cứu độ đến cho kẻ chết ngay cả khi Ngài nằm trong mồ của mình. GLHTCG đoạn 635 trích một đoạn từ bài giảng cổ nói về thứ bảy Tuần thánh:

“Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh. Hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc. Trái đất run rẩy rồi yên tĩnh lại, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm và Người đi đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời ... Người đi tìm nguyên tổ A-đam như tìm con chiên lạc. Người muốn thăm viếng tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết. Vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ, Người đi giải thoát A-đam và E-và đang đau khổ trong gông cùm xiềng xích ... “Ta là Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi. Hỡi người ngủ mê, hãy chổi dậy! vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy chỗi dậy từ cõi chết, vì Ta là sự sống của những kẻ đã chết (Bài giảng cổ vào thứ bảy tuần thánh).”

Mầu nhiệm "Ba lần" trong cuộc khổ nạn

“Một sáng khi Luisa đang suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, bà bắt đầu nghĩ đến việc mão gai của Chúa bị ấn sâu vào đầu ba lần. Khi mão gai bị gỡ ra cách hung tợn để đổi áo choàng của Đức Giêsu, một số gai vẫn còn cắm sâu vào sọ của Ngài. Rồi mão gai lại được đặt trên đầu Chúa và đâm sâu vào sọ của Chúa lần nữa, nhiều gai còn lại còn đâm thâu hơn trước nữa. Khi bà đang chú tâm suy niệm những ý tưởng này, Chúa Giêsu hiện ra chỉ trong chốc lát. Bà Luisa hỏi Chúa tại sao Chúa lại chịu đựng những cực hình mão gai ba lần vì một lần là đã đủ để đền bù cho những ý nghĩ xấu xa của con người. Chúa Giêsu trả lời Chúa không chỉ đeo mão gai ba lần mà hầu hết những đau đớn trong cuộc khổ nạn đều là ba lần, bắt đầu với ba giờ thống khổ trong vườn Cây dầu. Việc bị đánh đòn cũng ba lần vì họ dùng ba loại roi khác nhau. Chúa cũng bị lột y phục ba lần và ba lần bị kết án tử hình.

Khi vác thập tự, Chúa đã ngã dưới sức nặng của nó ba lần, người ta dùng ba cây đinh để đóng đanh Ngài; và Ngài chịu đau đớn ba giờ trên cây thập tự. Trái tim Chúa cũng tuôn máu ra ba lần. Trước hết trong Vườn, sau đó là khi Chúa bị treo trên cây thập tự, thân xác Ngài bị kéo dãn quá sức nên nó đã hoàn toàn bị trật xương, trái tim Ngài bị dập nát bên trong và lần thứ ba là khi bị đâm thâu bởi chiếc gươm giáo. Chúa Giêsu nói với bà Luisa nhiều loại “ba lần” khác có thể được tìm thấy khi người ta suy niệm về nó.

Không sự gì đã xảy ra do tình cờ nhưng là do thánh ý Thiên Chúa sắp đặt. Tất cả là để đem vinh danh đến với Chúa Cha (vì chúng chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa), để đền bù cho những xúc phạm đến với Thiên Chúa và để chiếm được những ân sủng tốt lành cho loài thụ tạo.

Sự tốt lành lớn lao nhất mà con người đã lãnh nhận được từ Thiên Chúa là được dựng theo giống hình ảnh của Chúa, được ban ba quyền năng vĩ đại: trí nhớ, trí năng và ý chí. Nhưng mỗi tội mà con người phạm đều cùng lúc có liên quan đến cả ba chức năng này. Qua cách này, linh hồn làm dơ bẩn hình ảnh Thiên Chúa nơi người ấy, dùng món quà đã lãnh nhận để xúc phạm đến Đấng đã trao ban.

Chúa Giêsu “ba lần” chịu khổ nhục, để cùng một lúc, khôi phục lại hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người, cách đặc biệt: trí nhớ, năng trí và ý chí. Qua cách này, Ngài đã dâng lên cho Chúa Cha trọn vẹn sự vinh quang mà chúng ta đáng phải dâng hiến và đem lại mọi ân sủng tốt lành các thụ tạo cần.” – Trích từ Life of the Mystic Luisa Piccarreta Journeys in the Divine Will - the Early Years

Bạn có thể đọc Cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong thánh Mátthêu từ chương 26 để tìm ra mão gai gỡ ra, ấn vào 3 lần. Và nếu bạn tìm ra những khổ cực khác, xin viết ra cho mọi người cùng biết.

Bạn có thể đọc thêm về Luisa Piccarreta ở đây (tiếng Anh)

Bạn cũng muốn đọc về Thị kiến Cuộc thương khó của Chúa Giêsu của Chân phước Anne Catherine Emmerich (Tiếng Việt)

Thứ Tư Tuần Thánh

Ngày thứ tư Tuần Thánh còn được gọi là Thứ tư Do Thám

Đây là ngày Giuđa phản bội Thầy mình. Giuđa đi gặp các thượng tế hứa sẽ nộp Chúa Giêsu cho họ. Phần dưới đây là từ bài thuyết trình của Dr. Brant Pitre

“Khi Đức Giê-su giảng dạy tất cả những điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: ‘Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá.’ Lúc ấy, các thượng tế và kỳ mục trong dân nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Cai-pha, và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giê-su và giết đi. Nhưng họ lại nói: ‘Không nên làm vào chính ngày lễ, kẻo gây náo động trong dân.’ Bấy giờ, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế mà nói: ‘Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.’ Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su” (Mt 26:1-5;14-16).

Rất nhiều điều xảy ra ở đây. Tôi chỉ tập trung vào một điểm: Tại sao Giuđa phản bội Chúa Giêsu? Người ta có nhiều suy đoán, đặc biệt nếu bạn xem những phim ảnh, họ sẽ nói Giuđa muốn Chúa Giêsu làm nhà cách mạng nhưng khi thấy đó không là ý định của Chúa, hắn thất vọng và phản bội Chúa dù không mấy sẵn lòng. Tất cả những điều đó đều là do họ tưởng tượng ra. Các Phúc Âm nói với chúng ta Giuđa làm điều đó vì tiền, hắn là kẻ tham tiền. Hắn thường trộm tiền từ túi chung. Gioan đã nhìn thấy Giuđa làm việc đó và biết Giuđa là tên ăn trộm. Vì tham lam, hắn đã bán Chúa của hắn, người Thầy và là người bạn để có 30 đồng bạc.

Nhưng ở đây thánh sử Mátthêu khi chính xác giá Chúa bị bán, ngài muốn chúng ta nhớ đến hai việc. Trước hết, sách Xuất hành nói 30 đồng bạc là giá để mua một người nô lệ. Chúa Giêsu đã bị bán với một giá hết sức rẻ rúng, bằng giá của một người nô lệ già nua. Từ sách Sáng thế, cũng có một câu chuyện song song với bị bán.

Chúa Giêsu không là người thứ nhất bị phản bội bởi người tên là Giuđa để có đồng bạc. Giuse và các anh của mình, 12 đứa con của Giacóp. Sách Sáng Thế chương 37 tường thuật chuyện 10 người con của Giacóp đang ngồi ăn, thấy có đoàn người Ít-ma-ên đến từ Giliad sẽ đi đến Ai cập. Họ liền bán em mình cho 20 đồng bạc.

Giuse bị bán làm nô lệ rồi Pharao tôn vinh ông, cho ông cai quản toàn thế Ai cập, với quyền thế chỉ sau vua. Giuse cứu cả dân ngoại và dòng dõi Giacóp. Giuse cũng bị bán bởi người tên là Giuđa.

Giuse là hình bóng chỉ về Đức Kitô. Cũng như Giuse được tôn vinh ngồi bên phải của Pharao và cứu toàn thể dân tộc được biết đến trong thời ấy, Đức Kitô là Giuse mới bị Giuđa phản bội. Nhưng chính qua sự phản bội đó, Chúa Giêsu sẽ cứu không chỉ các tông đồ, những kẻ bỏ Ngài một mình chạy trốn mà là cả thế giới qua bí tích Thánh Thể. Nhân thể đây, mỗi khi bạn thấy số 7 trong Kính thánh, đó là con số của Giao ước (Chúa lập giao ước qua 7 bí tích), không phải là con số chỉ về sự hoàn hảo. Số 10 là con số hoàn hảo. Như xưa, Giuse đã cứu dân chúng qua 7 năm đói khát, Chúa Giêsu sẽ cứu chúng ta qua Thánh Thể, Giao ước mới.

Đó là lý do Kitô hữu có thói quen ăn chay ngày thứ tư và thứ sáu. Thứ sáu vì là ngày Chúa chịu nạn và thứ tư vì là ngày Chúa bị phản bội.

Ngày mai, sáng thứ Năm Tuần thánh, Đức Giêsu sẽ cử hai môn đệ thân thiết nhất của mình -- Phêrô và Gioan đi chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Vì nếu Giuđa biết Đức Giêsu ăn Lễ Vượt Qua ở đâu, Đức Giêsu không thể thiết lập bí tích Thánh thể trước khi Ngài bị nộp.

Từ One Bread, One Body:

Không phải vì một ngày không may mắn nào đó mà Satan đã nhập vào Giuđa sau khi ăn miếng bánh trong bữa lễ quan trọng nhất, Bữa Tiệc Ly (xem Gioan 13:30; Luca 22:53). Giuđa đã dần dần trở nên kẻ tồi tàn. Những quyết định hằng ngày để có quyền lực và những quyến rũ của vương quốc của bóng tối. Thật oái ăm là trong tuần mà đáng lẽ hắn phải tìm đến với Chúa Giêsu nhất, hắn lại tìm cơ hội để nộp Người.”

Thứ Sáu Tuần Thánh

Từ muôn thuở Thiên Chúa Cha đã kỹ càng chuẩn bị mọi sự để lịch sử làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta qua Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể.

Từ bài diễn thuyết của Dr. Brant Pitre

Chúng ta chỉ tập trung vào một khía cạnh của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Chúng ta biết những gì đã xảy ra trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh: Vào buổi sáng Chúa Giêsu bị điệu đến Philatô, bị kết án tử hình bằng cách đóng đinh, Ngài bị chế nhiễu, mặc áo đỏ như là vị vua, bị đánh đòn nát da thịt, vác thánh giá lên núi Canvê. Ở đó người ta lột hết áo quần, bắt thăm coi ai lấy áo choàng, bị lột hết mọi sự và bị đóng đánh vào cây thập tự. Chúa phó linh hồn mình trong tay Chúa Cha và trút linh hồn.

Trong Phúc Âm thánh Gioan, Phúc Âm được đọc hằng năm cho ngày thứ sáu Tuần Thánh. (Gioan 19:26-37)

“Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : “Tôi khát !” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giê-su nói : “Thế là đã hoàn tất !” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.”

Họ đánh giập xương ống chân của người bị đóng đanh lý do là người ấy sẽ bị chết ngạt rất nhanh chóng. Quân lính Rôma biết cách để giết người và chúng rất thành thạo về việc ấy.

“Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su. Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.”

Gioan gián đoạn việc tường thuật ở đây và nói, “Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực ; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. [trích từ Xuất hành 12:46] Lại có lời Kinh Thánh khác : Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.”

Những sự gì đã xảy ra trong đoạn này? Tại sao Gioan nhấn mạnh việc người ta đưa rượu cho Chúa Giêsu trên nhành hương thảo. Sau đó, Chúa chết, bị đâm thâu và máu và nước chảy ra từ cạnh sườn của Người. Gioan nói, “Việc này xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập”

Thánh sử Gioan muốn chứng tỏ Chúa Giêsu là Con Chiên Vượt qua mới và nếu bạn có chút nghi ngờ về điểm đó thì theo như luật Chúa truyền là khi họ sát tế con chiên xong, họ sẽ bôi máu con chiên trên khung và ngưỡng cửa. Bạn nghĩ họ sẽ dùng cây gì để bôi máu? Một bó hương thảo (Xuất hành 12:22).

Cũng như dân Do thái xưa dùng hương thảo để bôi máu lên khung và ngưỡng cửa… Nhân thể, tôi muốn hỏi khi bạn bôi máu như vậy bạn sẽ làm nên dấu gì? Từ ngưỡng cửa đi xuống, và khung cửa từ trái sang phải… đó sẽ là dấu thánh giá… Chúa Giêsu là con chiên thật – người lính nhúng bọt biển trên cành hương thảo và đưa cho Chúa Giêsu. Tại sao? Vì Ngài là Con Chiên Vượt qua mới. Và Ngài sẽ trao ban cho chúng ta máu của người dưới hình dáng của rượu.

Đây là một điều nữa mà chúng ta dễ không nhận ra. Khi chúng ta nghe máu và nước từ cạnh sườn Chúa chảy ra, chúng ta chỉ đơn giản nghĩ Chúa Giêsu đã thực sự chết. Nhưng nếu bạn là người Do thái lên Giêrusalem để cử hành Lễ Vượt qua hằng năm, một trong những điều bạn sẽ phải chứng kiến là việc sát tế con chiên. Sẽ có 250.000 con chiên bị sát tế trong một ngày. Một trong những câu hỏi học trò đã hỏi tôi là họ làm gì với số lượng máu nhiều như vậy.

Các ráp-bi nói cho chúng ta biết họ làm gì. Ở đây tôi trích: “Máu và nước từ cạnh Đền thờ ở góc đông nam của bàn thờ. Có hai lỗ như hai lỗ mũi hẹp để máu khi được đổ ở dưới chân bàn thờ phía tây và phía nam, sẽ chảy xuống lẫn lộn với kênh nước và chảy ra suối Kidron” (Mishnah Middoth 3:2; trans. H. Danby).

Gioan thấy nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu và thánh sử nhận ra. Thánh sử cũng muốn bạn nhận ra điều đó nữa vì điều này bày tỏ sự gì? Rằng Chúa Giêsu không chỉ là Con Chiên Vượt qua mới, Ngài là Đền thờ mới. Cũng như máu và nước chảy ra từ bên hông núi của Đền thờ, máu và nước sẽ chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu đề đền bù cho tội của tôi, của bạn và cho toàn thể nhân loại.

Bạn nhớ Chúa Giêsu nói, “Hãy phá đền thờ này và tôi sẽ xây lại trong ba ngày.” Nếu thân xác Ngài là Đền thờ, thì Bàn Hiến tế ở đâu? Trái tim Rất Thánh Chúa là Bàn thờ Hiến tế!

Hình ảnh này thật mạnh mẽ vì không chỉ vì Chúa Giêsu chịu đau khổ chừng nào trên cây thập giá, không chỉ vì Ngài yêu thương chúng ta dường nào mà điều làm vui lòng Chúa Cha là tình yêu của Chúa Kitô tuôn tràn từ Trái tim của Ngài dưới hình dạng nước rửa sạch chúng ta trong bí tích Rửa Tội và máu mà sẽ ban cho chúng ta sự sống trong bí tích Thánh Thể.

Kinh Thánh nói tình yêu che lấp muôn ngàn tội lỗi thì tình yêu vô tận của Chúa Giêsu che lấp vô tận những án tội của chúng ta.

Khi Gioan chứng kiến điều này, ngài nhận ra ơn cứu độ của trần gian vừa mới xảy ra.

Khi Chúa chết, ông Giuse Arimathea đặt Ngài trong ngôi mộ mới. Bạn nghĩ mọi sự đã kết thúc? Không. Chúa Giêsu còn có những sự khác Ngài phải thực hiện.

(Chúng ta sẽ nói về thứ Bảy Tuần Thánh ngày mai.)

Chúa Giêsu làm gì trong ngày thứ hai và thứ ba Tuần Thánh?

Chúa Giêsu làm gì trong ngày thứ hai và thứ ba Tuần Thánh? Chúa Giêsu rủa cây vả và Tẩy sạch Đền thờ; chỉ về Đền thờ mới và hàng tư tế mới.

Bài dài nhưng xin bảo đảm bạn sẽ biết những điều bạn hề được nghe đến hoặc đọc đến.

Tóm tắt từ bài thuyết trình The Jewish Roots of Holy Week/ Nguồn gốc Do thái giáo của Tuần Thánh của Dr. Brant Pitre

*Hôm sau, khi thầy trò rời khỏi Bê-ta-ni-a, thì Đức Giê-su cảm thấy đói. Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi, vì không phải là mùa vả. Người lên tiếng bảo cây vả: “Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!” Các môn đệ đã nghe Người nói thế.

*Thầy trò đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su vào Đền Thờ, Người bắt đầu đuổi những kẻ đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc và xô ghế của những kẻ bán bồ câu. Người không cho ai được mang đồ vật gì đi qua Đền Thờ. Người giảng dạy và nói với họ: “Nào đã chẳng có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc sao? Thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!” Các thượng tế và kinh sư nghe thấy vậy, thì tìm cách giết Đức Giê-su. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất ngạc nhiên về lời giảng dạy của Người. Chiều đến, Đức Giê-su và các môn đệ ra khỏi thành.

*Sáng sớm, khi đi ngang cây vả, các ngài thấy nó đã chết khô tận rễ. Ông Phê-rô sực nhớ lại, liền thưa Đức Giê-su: “Kìa Thầy xem: cây vả Thầy rủa đã chết khô rồi!” (Mác-cô 11:12-21)

Tại sao Chúa rủa cây vả Tẩy sạch Đền Thờ?

Chúa Giêsu thực sự không rửa sạch Đền thờ mà là làm xáo trộn, lật đổ bàn ghế. Chẳng lẽ Mẹ Maria đã không dạy Chúa Giêsu cách xử sự sao? Thật là kỳ lạ. Mỗi khi đọc Phúc Âm và thấy có điểm gì kỳ quặc, tôi thường nói với học trò của tôi hãy tìm câu trả lời trong Cựu Ước.

Lý do Chúa lật đổ đồ đạc không là như người ta thường nghĩ là vì họ mua bán trong Đền thờ và đó là ý nghĩa chính. Đúng, có vần đề đó. Nhưng người ta nghĩ là vì người ta bóc lột dân nghèo đến mua lễ hy tế. Nhưng Phúc Âm không nói có sự bóc lột, lừa dối, không nói là Chúa phẫn nộ vì họ lừa dối kẻ khác mà là vì họ làm ngược lại với lời tiên tri của Isaia 56 là nhà của Chúa, Đền thờ đáng lẽ phải là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc. Các học giả nêu ra là Đền thờ thời Chúa Giêsu có hai phần riêng biệt: một phần cho người Do thái, phần ngoài của Đền thờ và có phần cho dân ngoại. Điều xảy ra là phần để dân ngoại cầu nguyện đã trở thành nơi chợ búa.

Nói cách khác, một số người Do thái đã nói, chúng ta không quan tâm dân ngoại không có nơi để cầu nguyện hay không. Chúng ta sẽ thiết lập phần đi vào Đền thờ này thành nơi dân Do thái hành hương cho Lễ Vượt qua có thể tiện nghi mua hy lễ cho dịp lễ.

Đó là điều làm Chúa phẫn nộ. Vì kế hoạch của Chúa từ thời Ápbraham, từ sáng Sách Thế chương 12 là Chúa chọn dân Do thái để qua Abraham mọi dân tộc sẽ được chúc phúc. Nhưng bây giờ một số dân Do thái đã trở thành chướng ngại vật cho dân ngoại.

Người ngoại bang gắn bó cùng ĐỨC CHÚA chớ nói rằng :“Hẳn ĐỨC CHÚA đã tách tôi ra khỏi dân Người.” Người bị hoạn chớ nói: “Chính tôi đây là một cây khô.” Quả vậy, ĐỨC CHÚA phán như sau: Nếu những người bị hoạn mà vẫn giữ các ngày sa-bát Ta truyền, và lựa chọn điều Ta ưa thích, cùng tuân thủ giao ước của Ta, thì trong nhà và trong tường luỹ của Ta, Ta sẽ cho chúng được lưu danh và có đài kỷ niệm ; như thế còn quý hơn con trai con gái. Ta sẽ cho tên tuổi chúng trường tồn, không bao giờ bị ai xoá bỏ. Người ngoại bang nào gắn bó cùng ĐỨC CHÚA để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta.

Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân. (Isaia 56:3-7)

Isaia không chỉ nói Thiên Chúa muốn cứu dân ngoại ngày nào đó mà còn là sẽ có một Đền thờ mới và trong Đền thờ đó, không chỉ dân ngoại sẽ có nơi để thờ phượng mà ngay cả từ giữa dân ngoại, Chúa sẽ chọn các tư tế mới. Tôi không biết làm cách nào cho bạn hiểu điểm này gây sốc như thế nào đối với người Do thái!

Trong thời Do thái giáo của thế kỷ thứ I, có hai loại người không được phép đi vào Đền thờ: dân ngoại và những người nam bị hoạn, những người không thể có con. Cả hai đều bị xem là ô uế… Tôi nghĩ lúc này thật khó để tưởng tượng một tôn giáo, trong đó có những tư tế vừa là dân ngoại, vừa không có con. Rất khó những bạn cứ tưởng tượng… Linh mục! Lý do Giáo hội có luật sống độc thân cho linh mục có gốc gác trong Mt 19:12. Chúa Giêsu nói, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng ; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn ; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu.”

Nói cách khác, có những người nam sẽ tự nguyện đời sống độc thân vì nước trời. Tại sao? Để họ có thể hoàn thành lời tiên tri này của một Đền thờ mới, một tư tế mới và hy lễ mới. Đừng nói tôi là dân ngoại, đừng nói tôi không có con cái, Chúa sẽ ban cho các ngươi, những tư tế mới của Ta một lưu danh mới, một đài lưu niệm như thế còn quý hơn con trai con gái.

Tôi có 5 đứa con; tôi đã cho con tôi sự sống tự nhiên nhưng một linh mục đem sự sống siêu nhiên. Một người linh mục trở thành người cha thiêng liêng đến những người họ đã rửa tội. Cha Mitch làm linh mục chỉ 5 năm và bao nhiêu trẻ cha đã rửa tội? Quá nhiều cha không còn nhớ nữa. Cha ấy có nhiều con hơn tôi nữa.

Ngày thứ hai Tuần thánh, khi Chúa nhìn thấy Đền thờ trần thế đã bị làm ô uế, Chúa thực hiện việc tẩy sạch Đền thờ trần tục để chỉ về Đền thờ mới, hàng tư tế mới, hàng tư tế độc thân. Đây là điều Chúa muốn thực hiện trong những ngày cuối của đời mình để hoàn tất lời tiên tri của Kinh Thánh về Đền thờ mới, bắt đầu hàng tư tế mới.

CHÚA RỦA CÂY VẢ

Tôi đã suy nghĩ về việc này khá lâu. Nếu bạn đọc các chú giải bạn sẽ thấy họ cũng không hiểu tại sao Chúa rủa cây vả (fig tree) giữa mùa xuân vì đến mùa hè nó mới có trái.

Manh mối cho câu trả lời nằm trong truyền thống Do thái giáo cổ xưa vì cây vả là một biểu tượng quan trọng. Nếu bạn quay trở về đọc Cựu Ước, có một lần cây vả được nói đến. Trong vườn Địa đàng dù là hầu hết người Công giáo khi nghĩ đến cây biết lành biết dữ, cây của sự chết, là cây táo vì sách vở vẽ trái táo. Trong Cựu Ước không có nói đến trái táo. Cây được nói đến là cây vả. Truyền thống Do thái giáo thực sự tin là cây biết lành biết dữ là cây vả.

Sách Sáng thế chương 3 nói người đàn bà thấy trái cây ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình trở nên tinh khôn, bà hái lấy trái ăn và đưa cho chồng bà cùng ăn. Mắt cả hai liền mở ra và họ trông thấy mình trần truồng. Họ lấy lá cây vả để che thân.

Lá cây vả làm da bị ngứa nên Ađam và Evà đã phải làm việc đền tội từ lúc ban đầu. Chúa phải ra tay sát hại con vật làm “cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ.” (St 3, 21). Dân Do thái biết điều này vì họ đọc Kinh Thánh rất kỹ càng và họ có trong truyền thống văn bản của họ rằng cây Kinh thánh nói đến là cây vả.

Có một truyền thống Do thái viết, Evà nói, tôi trích ở đây: “Ngay lúc này mắt tôi mở ra và tôi biết mình trần trụi sự công chính mà tôi đã được mặc lấy. Tôi tìm lá che đậy sự xấu hổ của mình nhưng không tìm thấy lá nào trong địa đàng ngoại trừ lá cây vả. Tôi lấy lá của nó làm cho mình một cái váy từ cây tôi đã lấy trái mà ăn.” (Life of Adam and Eve 21:4-5).

Cây vả từ đó được nối kết với cây biết lành biết dữ. Ađam và Evà vì ăn nó đã phạm tội, đem đau khổ và sự chết vào thế giới và cho những con cháu ở chốn lưu đày này.

Chúa Giêsu trên đường đi đến Giêrusalem để gánh lấy cuộc khổ nạn, Ngài thấy cây vả Ngài nói “Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!” Vì Ngài không chỉ là Vua Salômôn mới, không chỉ là Đấng Mêsiah, không chỉ sẽ thiết lập một Đền thờ mới, Ngài còn là Ađam mới và Ngài đến để gỡ bỏ những hậu quả của Ađam đầu tiên. Ngài không muốn ai phải ăn cây sự chết nữa, Ngài không muốn ai ăn trái của cây biết lành biết dữ nữa nên Ngài đã rủa nó như là một biểu tượng cho điều Ngài sẽ thực hiện trên cây thánh giá khi Ngài sẽ gỡ bỏ ràng buộc của tội và quyền lực của nó là sự chết.

Ly thứ tư* và Lễ Vượt Qua Mới

Nếu bạn có mang theo Kinh Thánh, bạn có thể cùng tôi mở đến Phúc Âm thánh Luca chương 22. “Lễ Bánh Không Men đã đến gần," cũng được gọi là gì? Lễ Vượt Qua! Thánh sử Luca đang tường thuật cho chúng ta về Bữa Tiệc Ly xảy ra trong Lễ Vượt Qua, và các thượng tế cùng các kinh sư cách để giết Chúa Giêsu vì họ sợ dân chúng.

Rồi “Xa-tan đã nhập vào Giu-đa, cũng gọi là Ítcariốt, một người trong Nhóm Mười Hai. Hắn đi nói chuyện với các thượng tế và lãnh binh Đền Thờ về cách thức nộp Người cho họ.” Đức Giê-su sai ông Phê-rô với ông Gio-an đi và dặn: “Các anh hãy đi dọn cho chúng ta ăn lễ Vượt Qua.”

Điều thánh Luca đang miêu tả ở đây và giả định rằng bạn biết là Lễ Vượt Qua phải được cử hành ở Giêrusalem, và thành phố lúc ấy sẽ nghẹt cứng với hơn một triệu những người hành hương. Để chuẩn bị cho bữa tiệc, bạn phải hiến tế con chiên nên Chúa Giêsu cử Phêrô và Gioan và sai hai người vào thành để gặp một người không có tên, một người vô danh, người ấy đang mang vò nước và đi tìm Phòng Trên Lầu, nơi mà họ sẽ ăn Lễ Vượt Qua. Ở đây bạn có thể hỏi tại sao Chúa Giêsu làm như vậy? Tại sao Chúa không đưa cả 12 tông đồ vào thành và đích thân chuẩn bị cho ngày lễ?

Vì Chúa biết Giuđa đang tìm cách để nộp Chúa và Chúa cần thiết lập bí tích Thánh Thể trước khi giờ của Ngài đến. Sự gì xảy ra trong ngày đó? Ý nghĩa của từ dọn tiệc Lễ Vượt Qua khi Chúa Giêsu sai Phêrô và Gioan đi là vì: họ sẽ phải đi lên Giêrusalem và tìm một con chiên. Nó phải là một con chiên đực, không tì vết, là con chiên một tuổi.

Họ sẽ mua con chiên rồi họ sẽ phải đưa con chiên vào Đền Thờ. Khi họ vào đến Đền Thờ, sẽ có hàng triệu người Do thái trong thành. Người nam sẽ là người đại diện cho gia đình họ hoặc đại diện cho nhóm gọi là Havurah, thường là 10 hoặc 20 người sẽ ăn một con chiên.

Hai người sẽ được cử đi vào Đền Thờ để nhận con chiên và hiến tế nó. Khi họ vào đến Đền thờ, đây là điều Phêrô và Gioan sẽ phải làm và những điều này tôi lấy từ Mishnah, là một sưu tập của truyền thống cổ điển của các Ráp-bi. Họ sẽ đi vào Đền thờ nơi có tường thấp gần giống như rào thấp quanh cung thánh, ngăn cách họ và các tư tế. Họ sẽ cầm lấy cổ con chiên từ phía bên kia tường và bạn sẽ rọc cổ con chiên. Phêrô hoặc Gioan phải rọc cổ con chiên.

Vị tư tế sẽ có một chậu vàng hoặc bạc để hứng máu con chiên, rồi lấy máu con chiên rưới trên bàn thờ hiến tế trong Đền thờ.

Có một năm họ đếm số con chiên vì Hêrôđê muốn điều tra con số, và năm ấy trong một ngày họ hiến tế 256.000 con chiên. Rất nhiều chiên và sẽ có nhiều máu. Tosefta nói những người tư tế đứng trong máu đến mắt cá của chân họ, máu chung quanh bàn thờ. Và khi họ phải rửa sạch vùng chung quanh bàn thờ, họ không thể đổ máu ra chỗ khác, không thể quét nó ra khỏi Đền Thờ. Họ phải đổ nó vào nhưng ống dẫn ra khỏi Đền Thờ, xuống một bên của núi, từ cạnh của Đền Thờ. Vì thế máu, một dòng sông đầy máu chảy ra từ cạnh Đền thờ vào Lễ Vượt Qua. Nghe quen quen phải không?

Máu sẽ chảy ra từ dòng sông gọi là Sông Kidron chảy từ một bên của Đền thờ. Vì thế, nếu bạn là người Do thái đi hành hương lên Giêrusalem vào Lễ Vượt Qua, bạn sẽ thấy gì nếu bạn lên Đền Thờ từ phía Đông? Một dòng sông đầy nước và máu, chảy ra từ cạnh Đền Thờ.

Phêrô và Gioan đi đến Đền thờ, họ dâng hiến con chiên hiến tế, sau khi máu đã được đổ ra, họ sẽ làm gì? Họ sẽ lấy con chiên và lý do họ cần hai người là vì họ phải lột da con chiên. Một người sẽ nắm con chiên lên và người kia sẽ lột da. Trong Đền thờ cũng có những móc sắt để treo con chiên. Nếu có hai người thì một người sẽ nắm giữ con chiên và người kia sẽ lột da. Họ sẽ lột hết da và trao nó cho tư tế. Khi con chiên đã được lột xong, bạn phải đem nó về nhà và Phêrô và Gioan sẽ đem về Phòng trên lầu để nướng con chiên và để ăn thịt nó. Khi nướng, bạn không thể để thịt con chiên chạm vào thành của lò nướng nên họ phải xẻ con chiên. Bạn có biết họ xẻ con chiên cách nào không?

Mishna nói họ sẽ lấy một cây gỗ, xuyên nó theo chiều của xương sống, rồi họ sẽ lấy một cây gỗ khác, xuyên nó qua hai chân trước. Thánh tử đạo Justin và các rápbi cũng nói họ sẽ kéo con chiên theo hình cây thập tự, họ sẽ đóng đanh nó và mang con chiên bị đóng đanh ra khỏi Đền Thờ về nhà của họ để cử hành bữa lễ. Chúa Giêsu khi còn là trẻ nhỏ đã cùng cha mẹ mình lên Đền Thờ. Chúa đã nhìn thấy hàng ngàn người Do thái mang con chiên trên cây thập tự ra khỏi Đền thờ. Một dấu về điều mà Ngài sẽ làm sau này. Điều này sẽ xảy đến cho Ngài trong Lễ Vượt Qua, khi mà giờ của Ngài cuối cùng đã đến. Chỉ là một dòng chữ trong Kinh Thánh "Đi dọn cho chúng ta ăn lễ Vượt Qua." Nhưng nếu bạn làm những điều Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói, nếu bạn nhìn vào những nghi thức của người Do thái, sự gì sẽ xảy ra với bạn? Bạn sẽ cảm nghiệm là những mầu nhiệm này được tỏ lộ, bạn có thể bước vào mầu nhiệm đó và nhận ra Chúa đã có dự định này,

 Chúa đã dự định từ muôn thuở là Ngài sẽ cứu thế giới nhờ máu Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa đi tội của trần gian, Đức Giêsu Kitô.

Tôi muốn chia sẻ với bạn về điều này. Bạn nghĩ Chúa Giêsu sẽ hát gì trong Bữa Tiệc Ly? Ngài hát bài gì đây? Tối hôm nay khi có cơ hội, bạn có thể mở đến các Thánh vịnh, từ Thánh vịnh 115 đến 118 và để ý đến điều Chúa Giêsu hát trong Bữa Tiệc Ly.

“Biết lấy chi đền đáp CHÚA bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh ĐỨC CHÚA Đối với CHÚA thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy CHÚA, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài.”

Chúa nhắc đến Đức Maria trong Thánh Lễ đầu tiên. Ngài hát về Đức Maria, về con của nữ tỳ Ngài. Và hôm nay trong mỗi Thánh Lễ, chúng ta làm gì? Maria. Trong mỗi Thánh Lễ, chúng ta nhắc đến Mẹ của chúng ta. Bất cứ người Do thái nào ở thế kỷ thứ nhất sẽ nhận ra nếu Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài hát bài Thánh vịnh nhưng không uống chén (thứ bốn), thì họ đã làm gì? Họ rời Bữa tiệc Vượt Qua khi nó chưa hoàn tất.

Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp [rượu] xong, Đức Giê-su nói: “Consummatum est. Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí. (Gioan 19:28-30)

Chúa Giêsu đã kéo dài nghi lễ Tiệc Vượt Qua của người Do thái từ tối thứ năm đến 3 giờ trưa ngày thứ sáu để nghi lễ ấy bao gồm mọi sự mà Ngài là Con Chiên Thiên Chúa phải trải qua: việc Ngài bị các môn đệ phụ bạc, Ngài bị Giuđa phản bội, việc Ngài bị Phêrô ruồng bỏ, bị khạc nhổ trên mặt, bị nhục mạ, bị cột và đánh đòn, bị đau khổ dằn vặt trong vườn Ghetsemani, việc vác thánh giá, bị ngã ba lần, bị đánh đập, máu đổ ra, sự nhạo báng trên cây thập tự: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” “Hãy cứu chúng tôi nếu mi là người mi nói mi là.” “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình.” Nhưng đó không là lý do Ngài xuống trần gian nên Chúa gánh lấy mọi đau khổ, tất cả cuộc khổ nạn của Ngài, và Ngài kết nối Bữa Tiệc Ly với Đồi Canvê, Ngài cột nó lại với nhau bằng dây đỏ máu của ly rượu thứ bốn trong Tiệc Vượt Qua.

Ngài lấy cây thánh giá và kết hợp nó làm một với Thánh Lễ; Ngài lấy Thánh Lễ và nối kết nó làm một với cây thánh giá. Mọi sự trở thành “một giờ.” Rồi Ngài nói “Mọi sự đã hoàn tất” và Ngài gục đầu, trút linh hồn.

Giờ đó, thưa anh chị em, giờ từ tối thứ năm đến trưa thứ sáu, tất cả đã được làm hiện diện trong mỗi một Thánh Lễ. Đó là lý do chúng ta phải có thái độ cung kính trong Thánh Lễ. Đó là lý do chúng ta phải tham dự Thánh Lễ với sự long trọng thích đáng và sự nghiêm trang vì trên bàn thờ máu đang tuôn đổ ra.

 

* Bữa tiệc Vượt qua của người Do thái bao gồm 4 ly rượu. Bữa tiệc được hoàn tất với ly rượu thứ 4. Chúa Giêsu uống ly rượu này trên cây thánh giá, rồi kêu lớn tiếng “Mọi sự đã hoàn tất.” Dr. Brant Pitre nói về ly rượu thứ 4 trong cuốn sách The Jewish Roots of the Holy Eucharist và Dr. Scott Hahn trong cuốn sách The Fourth Cup.

Xưng tội để nên thánh


Lời từ video:

Là linh mục Công Giáo, một trong những điều tôi yêu thích là ngồi ở tòa giải tội, không phải vì tôi thích việc nghe chuyện của người khác. Tôi thật không nhớ bất cứ điều gì tôi nghe trong tòa giải tội. Tôi gọi điều này là sự mất trí thiêng liêng. Tôi yêu thích tòa giải tội vì đó là nơi chiến thắng, là nơi người ta trở về với Chúa Giêsu. Thật là một điều phi thường.

Một trong những điều tôi nhận thấy là khi một người đã không đi xưng tội một thời gian dài trở lại với việc xưng tội họ thường chỉ nói, “Thưa Cha đã 30 năm con chưa đi xưng tội… Thưa Cha con đã 50 năm chưa đi xưng tội.” “OK, bạn cần xưng tội gì?” “Thưa Cha, con nóng tính với vợ của con,” hoặc “Con quá nặng lời, nặng tay với con cái mình” và những điều tương tự. “Chỉ vậy.” OK, sau 30 năm chỉ vậy thôi. Tôi nói: “Nào chúng ta hãy dừng một chút để quay trở lại và hỏi câu luôn cần hỏi mọi người khi xưng tội. “Chúa có là người số 1 trong cuộc đời bạn không? Bạn có đặt sự gì khác trên Chúa không?” Và câu trả lời thường là “Con không rõ. Con luôn cố gắng để là người tốt.” “Được, điều đó thật tốt, thật tuyệt.”

Nhưng… đó không phải là câu hỏi. Câu hỏi không phải là “Bạn có cố gắng để là một người tốt không?” Vì trong thực tế khi chúng ta so sánh mình với điều đó, chúng ta luôn nghĩ “Ồ, tôi không cố gắng mà cũng không tệ lắm.” Nhưng sự thật là bạn không tốt lành như bạn đáng là. Đó không là tiêu chuẩn để ban so sánh khi bạn so sánh sự tốt lành của mình với những người bạn biết. Sự tốt lành của chúng ta phải được so sánh với chính Chúa.

Nào chúng ta hãy quay trở lại với câu “tôi cố gắng để là người tốt.” OK! Nhưng đó không phải là câu tôi hỏi. Câu tôi hỏi là Chúa có là trọng tâm của đời bạn không? Vì bất cứ sự gì ngoài Chúa là trọng tâm của đời bạn, thì đó là điều bạn phải xưng trước hết mỗi lần bạn đi xưng tội. Và càng lớn tuổi hơn, chúng ta càng có nhiều thứ chiếm lấy chỗ thứ nhất trong đời sống chúng ta. Vì thế khi đi xưng tội, chúng ta không đi xưng tội như một đứa bé vì có lẽ đã lâu ta chưa đi xưng tội, nhưng chúng ta nên xưng tội như một người lớn.

Điều trước hết chúng ta cần thực hiện là thừa nhận một trong những tội quan trọng chúng ta phạm phải là chúng ta đã không đặt Chúa làm trọng tâm. Chúng ta đặt Chúa sang bên lề của cuộc sống.

Chúng ta hãy tiếp tục. Nếu chúng ta muốn đi xưng tội như một người lớn, chúng ta cần hiểu tội là gì. Khi được hỏi “Bạn cần xưng tội nào?” Người ta trả lời, “Tôi không biết. Tôi thực sự đã không làm tổn thương ai cả.” Rất tốt nhưng đó không phải là tội.

Tôi muốn định nghĩa tội theo cách này… vì Kinh Thánh có nhiều cách khác nhau để diễn tả tội lỗi và tất cả những hình ảnh này rất hữu ích. Đây là cách tôi diễn tả về tội. Tôi không phải là tôi tức giận, ngang ngạnh hay bướng bỉnh với Chúa; tội cũng không cần dính dáng đến việc tôi làm hại ai, hay làm tổn thương người khác. Nó không bao giờ chỉ là một sự xui xẻo hay một sự cố tình cờ. Tội là điều này: Lạy Chúa, con biết điều Chúa muốn con làm, nhưng con không màng đến. Con chỉ muốn làm điều con muốn làm mà thôi [Thái độ] đó là tội. Lạy Chúa, con biết điều Chúa muốn con làm; nhưng con lại muốn điều con muốn. Con biết Chúa muốn con làm gì nhưng con sẽ làm điều con muốn làm. Tội là biết điều Chúa muốn nhưng lại trong tự do chọn làm điều khác.

Dưới ánh sáng của hiểu biết này, tôi có thể nhìn lại và biết rằng: “OK yeah, khi tôi học lớp hai, tôi biết điều Chúa muốn tôi làm là vâng lời cha mẹ của tôi; Chúa muốn tôi đối xử tốt lành với anh chị em của tôi; Chúa muốn tôi không quay bài ở trường học và những điều tương tự… Nhưng bây giờ bạn đã 25 tuổi, bạn đã 55 tuổi và khi gặp câu hỏi “Chúa muốn gì cho cuộc đời của bạn?” “Ồ, con không biết bắt đầu từ đâu!”

Thật là may mắn Giáo Hội đã cho chúng ta bản xét mình nên chúng ta có thể bắt đầu từ đó. Có bốn điều bạn có thể bắt đầu việc xét mình như một người lớn. Và đây là lời mời của tôi đến với bạn. Bản xét mình của bạn cần phải phù hợp với tuổi tác và bậc sống của bạn. Bản xét mình của các em lớp hai sẽ không hữu ích cho bạn; hoặc bản xét mình cho người độc thân khi bạn là người có vợ có chồng; hoặc bản xét mình cho người đã kết hôn khi bạn đang còn độc thân cũng sẽ không hữu ích gì cho bạn.

Có một bản giúp xét mình dành cho các linh mục mà tôi rất thán phục. Nó hướng dẫn tôi đi sâu vào tâ m hồn làm tôi rất ngạc nhiên, nó rất hữu ích. Nên điều trước tiên là tìm một bản xét mình hữu ích.

Điểm thứ hai: có một kinh được gọi là Kinh cầu để được ơn khiêm nhường của ĐHY Merry del Val. Kinh này có câu “Lạy Chúa Giêsu xin giải thoát con khỏi lòng ham muốn được yêu mến, khỏi lòng mong ước được tôn vinh.” Và nhiều điều khác như ham muốn được ưu đãi hơn, được quý chuộng hơn, hay được tôn vinh hơn người khác. Tôi đọc qua Kinh cầu khiêm nhường này và nhận ra có những vết thương trong lòng tôi, có những lúc trong cuộc đời tôi đã nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con biết Chúa muốn con làm gì, nhưng con muốn điều con muốn.”

Điểm thứ ba để tìm bản xét mình là dùng chính lời dạy của Chúa Giêsu: Tám Mối Phúc Thật. Trong Tám Mối Phúc Thật Chúa Giêsu nói “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp… Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương…” Tôi có sống cách hiền lành không? Tôi có thương xót người khác không? Tôi có cố xây dựng hòa bình không? Đây là những điểm tôi có thể nhìn vào đời mình và hỏi tôi có làm những điều này hay không?

Và điểm thứ bốn để tìm bản xét mình được gọi là phản tỉnh. Đấng sáng lập Dòng Tên Thánh Y-Nhã, dòng mà ĐTC Phanxicô thuộc về, đưa ra một cách mà ngài gọi là phản tỉnh. Nó không cùng nghĩa với việc xem xét lương tâm hay xét mình. Nó gồm những bước này: Trước hết bắt đầu bằng việc cầu nguyện, cầu xin Chúa Thánh Thần ơn soi sáng vì chúng ta không biết chúng ta cần xưng những sự gì. Tiếp đến, hồi tưởng lại một ngày sống bạn đã trải qua, việc này thường được làm vào thời gian cuối ngày.

Dùng trí nhớ để đi qua những gì xảy ra trong ngày sống của bạn, trong hết mọi khía cạnh lĩnh vực của cuộc sống. Khi bạn nói “Vâng” với Chúa, bạn nhận ra đó là lúc và là nơi ân sủng hiện diện sự mời gọi của Chúa đã hiện diện và bạn trả lời “Xin vâng.” Hãy như vậy đi qua ngày sống đó và dâng lời tạ ơn cho điều này, hay cảm tạ Chúa cho sự kia. Đi đến cuối ngày và tạ ơn Chúa.

Và quay trở lại ngày lần nữa từ lúc bắt đầu để nhận ra trong một ngày sống của bạn, có những lúc Chúa trao ban ân sủng của Ngài cho bạn và bạn đã khước từ nó; có những lúc bạn rất rõ ràng là Chúa nói Chúa muốn bạn làm điều này nhưng bạn lại nói bạn muốn làm điều bạn muốn. Hãy đi qua những lúc ấy cho đến điểm cuối của ngày và nói với Chúa, “Con xin lỗi Chúa. Xin Chúa tha cho con” rồi đặt chúng dưới chân Chúa Giêsu.

Vì bạn nhận ra đây không chỉ là tội đã phạm mà còn là việc kết hợp mật thiết với Chúa. Đó là lý do tại sao điều trước hết bạn cần hỏi mình là “Chúa có là trọng tâm của cuộc đời tôi hay không? Hay là tôi đã để Chúa đứng bên lề cuộc sống tôi?”

Mức độ bạn sống dựa trên mối quan hệ với Chúa là phần có đầy năng động trong cuộc sống của bạn.

Lạy Chúa, con nhận ra Chúa đã ở nơi đây trong cuộc sống của con, con cảm tạ Chúa. Lạy Chúa, con biết Chúa đã ở nơi đó và Chúa mời gọi con làm một việc và con đã không làm điều ấy, con xin lỗi Chúa.

Tôi chắc chắn với bạn, nếu bạn dùng một trong những bản xét mình đó và bắt đầu đem nó vào cuộc sống, bắt đầu hiểu biết về chúng, bắt đầu đem nó ra thực hành, ý thức được rằng Chúa phải là trọng tâm chứ không đứng bên lề của cuộc sống bạn. Tôi chắc chắn với bạn, nếu bạn làm điều này, bạn sẽ bắt đầu học cách đi xưng tội như một người lớn. Thực sự học cách đi xưng tội như một vị thánh. Và đó là điều Chúa muốn bạn hãy là.

Tôi là Cha Mike, cho kênh Ascension Presents. Xin Chúa chúc lành cho bạn.

Phêrô: Vị thủ lãnh Chúa Giêsu thiết lập

"Tường thuật cuộc khổ nạn của Thánh Luca bắt đầu với tường thuật về lễ Vượt Qua sắp đến và tường thuật về Bữa Tiệc Ly và việc Chúa Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể, tương tự như các sách Phúc âm của Mát-thêu và Mác-cô. Tuy nhiên, Luca kể một điều độc đáo trong tường thuật Bữa Tiệc Ly khi ngài mô tả lời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ về việc họ sẽ ngự trên tòa xét xử 12 chi tộc của Israel cũng như lời cầu nguyện đặc biệt của Chúa Giêsu dành riêng cho Phêrô với tư cách là người lãnh đầu của nhóm mười hai người. Vậy, chúng ta hãy đọc văn bản đó. Trong Luca 22:28-34, sau khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu nói với các Tông đồ:

Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.

Rồi Chúa nói : “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” Ông Phê-rô thưa với Người : “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng.” Đức Giê-su lại nói : “Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy.”

Hãy lưu ý ở đây có điều gì đó thực sự quan trọng trong tường thuật của thánh Luca. Trước, Luca (và chỉ riêng Luca) cho chúng ta biết rằng trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã chỉ định sự chia sẻ vào quyền Vương giả của Ngài cho mười hai Tông đồ. Theo nghĩa đen trong tiếng Hy Lạp chính là những gì Chúa Giêsu nói ở đây: “Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en. ”

Trước hết, điều Chúa Giêsu đang làm là thiết lập (nơi các vị Tông đồ) một Israen mới, các Tông đồ sẽ cai quản dân Israen mới này, ngự trên mười hai ngai vàng.

Thứ hai, hãy lưu ý rằng trong số mười hai Tông đồ, các vị mà sẽ cai quản dân Israel mới này, Si-môn Phêrô có vị trí ưu tiên. Bạn sẽ dễ dàng bỏ lỡ điều đó nếu bạn đọc nó bằng tiếng Anh, nhưng bằng tiếng Hy Lạp thì điều đó thực sự rõ ràng: khi Chúa Giê-su nói, “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng you/ anh em (Yeah, tiếng Việt là anh em)”, từ Hy Lạp có từ “you” số nhiều. Vì vậy, nếu bạn muốn dịch nó sang tiếng Anh: “Satan đã xin được sàng ya’ll.” (Tôi sinh ra ở miền nam, chúng tôi có ngôi thứ hai số nhiều, gọi là ‘ya’ll’ và có là từ Hy Lạp ở đây. “Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.”

Vậy ở đậy Chúa Giêsu muốn nói đến hai điểm: Thứ nhất, vai trò độc nhất mà Si-môn Phêrô với tư cách là người thủ lĩnh của mười hai Tông đồ và là người củng cố các anh em. Và tôi chỉ nêu ra điều này bởi vì (rõ ràng là) có một cuộc tranh luận dai dẳng về nguồn gốc của chức vụ giáo hoàng và thẩm quyền của Vị Giám mục của Rôma và những điều tương tự, nhưng tôi muốn nhấn mạnh điều này là trong phúc âm của Luca, theo thánh Luca, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu chỉ định Phêrô là người có sứ mệnh đặc biệt để củng cố các vị Tông đồ khác sau khi ngài đã từ chối Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu cầu nguyện đặc biệt cho Simôn (và một mình Simôn thôi) để ngài khỏi mất lòng tin.

Tôi đưa ra điều này bởi vì trong Giáo hội Công giáo, chúng ta có tín điều về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo hoàng (không thể sai lầm khi dạy về đức tin và luân lý và chỉ hai điều đó thôi nhé bạn), nhiều người Công giáo thực sự sẽ chỉ đến (và không sai) Phúc âm thánh Mát-thêu chương16, nơi Chúa Giêsu nói, “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (18).

Họ sẽ chỉ ra đoạn văn đó là nền tảng của vai trò ưu tiên của Đức Giáo hoàng và ơn bất khả ngộ của ngài. Nhưng điều thú vị là nếu bạn thực sự nhìn vào định nghĩa về ơn bất khả ngộ của giáo hoàng từ Vatican 1 (và các Giáo phụ), điều bạn sẽ thấy là ngôn ngữ của không thể sai lầm trong Vatican 1 thực sự xuất phát từ Luca 22, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu để đức tin của Phêrô không bị lung lạc; ngôn ngữ “không lung lạc” là từ Giáo hội dùng khi dạy về ơn bất khả ngộ của đức Giáo hoàng, liên quan đến vai trò của Phêrô là người có thẩm quyền tối cao và thẩm quyền về tín lý trong Giáo hội trần thế, cũng như vai trò của ngài trong việc củng cố các vị Tông đồ khác.

Tôi chỉ nêu ra điều này bởi vì đây là điểm rất tuyệt vời rằng Chúa Giêsu, ngay giữa cuộc khổ nạn của Ngài, về những gì Ngài sắp phải gánh chịu, những đau khổ Ngài phải trải qua, vẫn hướng về qua cảnh bị đóng đanh, đến vài trò của Phêrô là thủ lĩnh của các Tông đồ và là người mà đức tin sẽ không lung lay vì những ân sủng Chúa Kitô đã cầu xin cho ngài trong Lầu trên của Bữa Tiệc Ly." -- Dr. Brant Pitre

Tuyên xưng Vương Quyền của Chúa Giêsu

Trong cuộc rước của Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta tham gia cùng các môn đệ, những người đã tháp tùng Chúa với niềm vui trong khi tiến vào Giê-ru-sa-lem. Giống như họ, chúng ta ca ngợi Chúa Giêsu với tiếng reo hò vì tất cả những phép lạ mà chúng ta đã thấy. Đúng vậy, chúng ta cũng đã thấy và ngày nay vẫn thấy những điều kỳ diệu nơi Đức Kitô: làm thế nào Người đưa những người nam và người nữ từ bỏ những tiện nghi của cuộc sống của họ và hiến thân hoàn toàn để phục vụ những người đau khổ; làm thế nào Ngài khiến những người đàn ông và phụ nữ can đảm để chống lại bạo lực và lừa dối, để mang sự thật đến cho thế giới; bằng cách nào, trong thâm tâm của họ, Ngài thuyết phục những người đàn ông và phụ nữ làm điều tốt cho người khác, mang lại sự hòa giải nơi từng có hận thù và tạo ra hòa bình ở nơi mà sự thù hận đã ngự trị. 

Cuộc rước lá trước hết là một chứng từ bày tỏ chúng ta vui mừng về Chúa Giêsu Kitô, nơi Người, khuôn mặt của Chúa Cha đã trở nên hiển hiện cho chúng ta, và nhờ Người, chúng ta nhìn thấy được Trái Tim Thiên Chúa. Trong Phúc âm Luca, tường thuật về sự bắt đầu của cuộc rước ở vùng lân cận Giê-ru-sa-lem, một phần được mô phỏng theo nghĩa đen của nghi thức đăng quang mà theo Sách Các Vua, quyển thứ nhất, Sa-lô-môn được coi là người thừa kế vương quyền của Đa-vít (xem 1: 33-40). 

Như vậy, cuộc rước của Lễ Lá này cũng là cuộc rước Chúa Kitô Vua: Chúng ta tuyên xưng vương quyền của Chúa Giêsu Kitô; chúng ta nhìn nhận Chúa Giêsu là Con Vua Đa-vít, Vua Sa-lô-môn đích thực, Vua của hòa bình và công lý. Công nhận Ngài là Vua có nghĩa là chấp nhận Ngài là Đấng chỉ đường cho chúng ta, nơi Người chúng ta đặt niềm tin cậy và bước theo. Nó có nghĩa là chấp nhận lời của Người ngày này qua ngày khác như một tiêu chuẩn đúng đắn cho cuộc sống của chúng ta. Có nghĩa là nhìn thấy nơi Người, thẩm quyền mà chúng ta suy phục. Chúng ta phục tùng Ngài vì thẩm quyền của Ngài là thẩm quyền của sự thật.
–Bài giảng của ĐTC Benedictô vào Lễ Lá 2007

GIẢI PHÁP ĐỂ LÀM CHỦ HAM MUỐN NHỤC DỤC: ĐỨC KHIẾT TỊNH

Vì vậy, một người nên làm gì? Biện pháp khắc phục sự dâm dục là gì? Làm sao ai có thể chiến thắng trong trận chiến với tội lỗi này, khi những ham muốn thúc đẩy nó rất mạnh mẽ và khó kiểm soát?

Thói dâm ô và sự thánh thiện thì không tương thích với nhau

Việc đầu tiên là tránh đặt mình vào những tình huống bị cám dỗ. Chúng ta sẽ không bao giờ trau dồi đức tính khiết tịnh nếu chúng ta không nỗ lực loại bỏ những dịp ham muốn nảy sinh khỏi cuộc sống của mình. Chúng ta phải từ chối sự cám dỗ khiến chúng ta nói với Chúa, như Augustinô thành Hippo đã làm khi còn trẻ, "Xin hãy ban cho con sự trinh bạch và tiết chế, nhưng khoan đã!”19

Cùng những dòng này, thánh Phaolô liệt kê “tình dục vô luân” (tiếng Hy Lạp porneia) là một trong những “việc làm của xác thịt” sẽ ngăn cản một người thừa hưởng “nước trời” (Ga-lát 5:19, 21). Nói cách khác, mọi hành vi tình dục ngoài đời sống hôn nhân vợ chồng đều là tội lỗi nặng nề.20 Theo thánh Phaolô, dục vọng và sự thánh thiện không tương đồng với nhau:

Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh, tức là xa lánh gian dâm, mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự, chứ không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại, là những người không biết Thiên Chúa. (1 Thêxalônica 4:3–5)21

Như chúng ta đã thấy trước đó, sự thánh thiện có nghĩa là được biệt riêng khỏi tội lỗi và được biệt riêng cho Chúa. Theo Tân Ước, mỗi người đều được kêu gọi nên thánh. Vì lý do này, những hành vi thể hiện ra ngoài của “tình dục vô luân” (tiếng Hy Lạp porneia) cũng như những hành vi ẩn bên trong của “dâm dục” (tiếng Hy Lạp epithymia) đều không có chỗ đứng trong cuộc sống của một môn đồ Chúa Giêsu.22 Chúng ta không thể phụng sự Thiên Chúa và porneia. Chúng ta sẽ yêu người này và ghét người kia hoặc hết lòng vì người này và coi thường người kia.

Ba giai đoạn của cám dỗ

Mặt khác, cũng cần phải hiểu sự khác biệt giữa việc đơn giản cảm thấy sự cám dỗ (không phải là tội lỗi) và thích thú với nó hoặc chấp thuận nó (là tội lỗi). Từ thời cổ đại, các nhà bình luận Kitô hữu về lời của Chúa Giêsu trong Bài giảng trên núi đã phân biệt ba giai đoạn của cám dỗ tình dục: gợi ý, khoái cảm và thoả hiệp. Hãy xem lời giải thích của Thánh Phanxicô de Sales về những bước này:

1. Sự Cám dỗ: "tội lỗi được bày ra cho linh hồn" (không tội lỗi)
2. Sự Vui thích: “[linh hồn] hài lòng hoặc không hài lòng ”
3. Sự Chấp thuận: “hoặc [linh hồn] chấp thuận hoặc nó từ chối.”

Như Đức Phanxicô tiếp tục giải thích, sự cám dỗ đơn thuần đối với “bất kỳ tội lỗi nào,” dù mạnh đến đâu, bản thân nó không phải là tội lỗi, “miễn là chúng ta không thích thú với nó và chấp thuận nó.” Như chúng ta đã thấy trước đó, Chính Chúa Giêsu đã bị cám dỗ trong sa mạc với “mọi sự cám dỗ” (Lu-ca 4:13), nhưng Ngài vẫn không phạm tội (xem Híp-ri 4:15). Lý do: bởi vì Chúa Giêsu không vui thích cũng như không chấp thuận những cám dỗ được bày ra với Ngài. Điều này cũng đúng đối với chúng ta trong cuộc chiến chống lại dâm dục. “Dù sự cám dỗ kéo dài bao lâu thì nó cũng không thể gây hại cho chúng ta chừng nào nó khiến chúng ta không hài lòng” và chúng ta từ chối nhượng bộ. 28

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch

Ngoài ra — và điều này rất quan trọng — cần phải cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn khiết tịnh. Như những lời cảnh báo của Chúa Giêsu chống lại việc phạm tội “ngoại tình” trong “tâm” đã nói rõ, đức tính khiết tịnh không chỉ bao gồm việc kiêng cử một số hành vi thân thể (Mát-thêu 5:28). Sự trong trắng thực sự được tìm thấy trong tâm con người. Một lần nữa, như Chúa Giêsu nói trong Bài giảng trên núi:

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. (Mát-thêu 5:28).

Mặc dù từ “trong sạch” (tiếng Hy Lạp katharos) có thể có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng ví dụ nổi tiếng nhất về “tâm trong sạch” trong Kinh thánh Do thái giáo xuất phát từ Thánh vịnh 51, lời cầu nguyện được cho là của Vua Đa-vít sau khi ông ngoại tình với Bát Se-va:

Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy…
Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.
(Thánh vịnh 51:4, 12)

Lưu ý ở đây rằng Đa-vít nhận ra rằng một “tâm/ tấm lòng trong trắng” (tiếng Hy Lạp kardian katharan) là thứ mà chỉ Thiên Chúa mới có thể “tạo” ra; Đa-vít không thể đạt được nó bằng sức riêng của mình. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban cho sự tự do và hạnh phúc đi kèm với ơn khiết tịnh.

 Sự ăn chay, suy niệm và lao động chân tay

Cuối cùng, nhưng chắc chắn không kém phần quan trọng, như các tác giả Kitô giáo viết về đời sống thiêng liêng sau này sẽ nhấn mạnh, có một số cách thực tế nhất định để chống lại tác hại của dâm dục mà mọi Kitô hữu có thể thực hành được. Theo lời của Gioan Cassian:

Ăn chay thôi thì không đủ để có được và sở hữu đức trong trắng của đức khiết tịnh hoàn hảo;… cần phải liên tục suy ngẫm Kinh thánh… cũng như lao động chân tay chăm chỉ, thứ giúp kiềm chế và nhớ lại những hành động lang thang vô ích của trái tim;… trước tất cả những sự khác phải đặt để nền tảng của sự khiêm tốn thực sự, nếu không có sự khiêm tốn này thì không bao giờ có thể chiến thắng bất kỳ thói xấu nào.30

Nếu thông qua việc ăn chay, chúng ta có thể học cách kiểm soát cảm giác thèm ăn của mình, chúng ta cũng sẽ học cách kiểm soát cảm giác thèm muốn của mình đối với các thú vui thể chất khác. Nếu chúng ta rèn luyện cơ thể thông qua lao động thể chất thường xuyên, chúng ta sẽ phát triển trong khả năng hãm mình và làm chủ bản thân trong các lĩnh vực khác. Nếu chúng ta gặp khó khăn với những ý nghĩ và hình ảnh dâm dục trong tâm trí, thì chúng ta cần lấp đầy trí tưởng tượng của mình với vẻ đẹp của Kinh thánh bằng cách ghi nhớ và suy ngẫm về nó hàng ngày. Như sách Thánh Vịnh đã nói,

Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng?
Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy…

Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ,
để chẳng bao giờ bội nghĩa bất trung.

(Thánh vịnh 119: 9, 11)

Cuối cùng, không ai trong chúng ta có thể chiến thắng trong cuộc chiến chống lại dâm dục bằng chính sức mạnh của mình. Chúng ta cần sự khiêm nhường để cầu xin Chúa - Đấng làm nên trái tim - tạo nên trong chúng ta một “tấm lòng trong sạch” (Thánh vịnh 51:10).

Như chúng ta vừa thấy, dâm ô không phải là tội đầu duy nhất bắt nguồn từ một ham muốn bị rối loạn về lạc thú thể xác. Còn có một thói xấu khác không được nói đến, hoặc thậm chí không bị cho là tội lỗi. Tôi đang nói ở đây về sự háu ăn. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sự chú ý của mình đến nó.

Chuyển ngữ từ Introduction to the Spiritual Life: Walking the Path of Prayer with Jesus by Dr. Brant Pitre