Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ - CN thứ IV Mùa Vọng, năm A

“Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21).

Được “cứu khỏi tội lỗi” thì không chỉ là “được cứu khỏi hậu quả của tội.” Chúa Giêsu đến không chỉ để cứu chúng ta khỏi địa ngục nhưng để cứu chúng ta khỏi việc phạm tội. Ngài đến để chúng ta có thể sống cuộc đời thánh thiện. Cuộc đời tội lỗi thật là một cuộc đời khốn khổ; nó đúng thật là địa ngục ở trần gian. Nhưng tội là một thứ nghiện, và chúng ta cần đến một Quyền Năng cao hơn— thực sự là một Đấng cao cả hơn — để có thể có được sự tự do.

...Khi lùi lại một bước và suy niệm những bài đọc của ngày hôm nay, chúng ta nhận ra chủ đề của các bài đọc là về sự xâm nhập của Thiên Chúa vào cuộc sống của con người. Thiên Chúa tỏ ý muốn can thiệp vào cuộc đời của vua A-khát, và câu trả lời của vua là “Cám ơn nhưng con không cần”.

Trong Tin Mừng, Thiên Chúa “xâm chiếm” cuộc đời của Đức Maria và Thánh Giuse với sự hiện diện của Người. Có lẽ khát vọng của hai đấng là không gì khác hơn sống một cuộc sống bình lặng và yên ổn, cố gắng gây dựng một gia đình ở Nazareth trong khi chờ đợi Thiên Chúa thực hiện lời Ngài đã hứa với tổ tiên của họ qua các vị tiên tri. Họ không nghĩ đến việc Chúa sẽ dùng cuộc đời của họ để thực hiện hết những lời hứa mà họ đã đọc hoặc nghe.

Sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống của họ có nghĩa là công việc sẽ không bình thường như trước kia và sự thoải mái của một đời sống bình thường không còn nữa.  Giuse lo lắng khi biết vị hôn thê của mình đang mang thai và sợ phải cưới Maria, vì Giuse nghi ngờ Maria: (theo quan điểm của thời hiện đại hơn) có hành vi sai trái nào đó, hoặc (theo quan điểm của truyền thống cổ điển) Giuse do dự vì ngài sẽ kết hôn với một người phụ nữ thánh thiện đến mức bà đã được chọn để cưu mang Đấng Mêsia.

Hy vọng của Giuse và Maria, sống một cuộc sống thuộc tầng lớp trung lưu, sống trong sự đợi trông của dân Israel đã tan thành mây khói. Cuộc sống của họ sẽ không bình thường như những người khác. Thiên sứ hướng dẫn Giuse đi bước tiếp theo – hãy đón bà về nhà mình. Chúng ta biết rằng những tháng năm sắp tới sẽ có nhiều khó khăn và lo lắng hơn nữa – một hành trình dài đến Bết-lê-hem trong giai đoạn cuối của thai kỳ, sau đó là trốn thoát lúc nửa đêm từ Bết-lê-hem đến Ai Cập để tránh việc bị hãm hại.

Cuộc đời của Mẹ Maria và Thánh Giuse sẽ không bao giờ bình thường và thoải mái nữa vì khi Thiên Chúa “xâm chiếm” cuộc đời chúng ta, Ngài tháp nhập chúng ta vào chương trình cứu độ vũ trụ của Ngài, và chúng ta phải thông phần đau khổ của Đấng mệnh danh là “Đấng Cứu Độ” (xem Rm 8:17).

Trong Thánh lễ, chúng ta chuẩn bị “việc Chúa xâm nhập” vào cuộc đời của chúng ta qua bí tích Thánh Thể, khi Thiên Chúa một lần nữa sẽ đi vào cuộc sống và thân xác của chúng ta, “Mình Máu, Linh hồn và Thiên tính”. Chúng ta đã sẵn sàng cho điều đó chưa? Chúng ta có sẵn sàng để cuộc sống của mình bị chệch hướng, sang một hướng mới, thậm chí có thể là một hướng không thoải mái vì Chúa hiện đang sống trong chúng ta không?
-- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year A

Chúa Nhật thứ V Mùa Phục sinh, Năm C

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (Ga 13,31-33a.34-35)

Khi Giu-đa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giê-su nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.

“Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu thương nhau.”

 


 

… Trong trường hợp này, trong tiếng Hy Lạp, agape (hoặc ở đây là agapao), Chúa Giêsu chắc chắn không muốn nói đến tình yêu lãng mạn. Chúng ta có thể gọi là “tình yêu hiến tế”, thứ tình yêu hướng đến lợi ích của người khác, thậm chí ngay cả bản thân chịu đau khổ và hy sinh mạng sống. Bạn có thể thấy đó là điều Chúa Giêsu nói đến với từ agape bằng cách nhìn vào Gioan 15. Chỉ một vài câu sau trong bài diễn văn của Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói (trong Gioan 15:13)

“Chẳng có tình yêu nào vĩ đại hơn là tình yêu của người chịu hy sinh tính mạng cho bạn hữu mình.”

Vì vậy, đối với Chúa Giêsu, agape/tình yêu hiến tế là biểu hiện tối cao của tình yêu. Hình thức tình yêu cao nhất là hy sinh tính mạng cho một người khác. Và vì vậy, đó là bản chất, đó là trọng tâm của Điều Răn Mới mà Chúa Giêsu trao ban cho các môn đệ của Ngài. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Nói cách khác, “Thầy muốn anh em yêu nhau bằng một tình yêu hy sinh.”

Chúa Giêsu kết thúc và nói, “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương / agapao nhau”. Chúa Giêsu muốn họ có tình yêu ấy cho nhau, một tình yêu hiến tế. Và tôi nghĩ điều quan trọng cần nhớ ở đây là khi Chúa Giêsu nói “các môn đệ”, từ môn đệ trong tiếng Hy Lạp là mathetes, xuất phát từ manthano có nghĩa là “để học hỏi”. Vậy nghĩa đen ở đây là “những kẻ học theo tôi”. Làm thế nào người ta biết rằng bạn là kẻ học theo tôi? Làm thế nào để mọi người biết rằng bạn là học trò của tôi? Khi họ thấy bạn noi gương Thầy mình, khi họ thấy bạn noi gương sư phụ và yêu thương nhau như Yhầy đã yêu anh em (hy sinh, hiến tế bản thân), đó là cách người ta sẽ biết anh em là môn đệ của Thầy.

Có một bài hát tôi học khi tôi còn nhỏ, “Người ta sẽ biết chúng ta là Kitô hữu khi nhìn thấy chúng ta yêu thương nhau.” Đó là một bài hát hay. Đó là một câu nói đúng, nhưng Chúa Giêsu không nói họ sẽ biết anh em là Kitô hữu ở đây. Hãy để ý những gì Ngài nói: MÔN ĐỆ của Thầy. Trước hết, thuật ngữ “Kitô hữu” chưa có, nhưng quan trọng hơn là Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi các môn đệ tin vào Ngài (điều này thực sự quan trọng), Ngài gọi họ hãy là học trò của mình. Họ phải học những gì Thầy mình nói, lắng nghe những gì Thầy mình dạy và làm những gì Thầy làm. Họ được kêu gọi để noi gương Ngài và sống như Ngài đã sống. Một lần nữa, tôi nghĩ điều này quan trọng đối với chúng ta trong bối cảnh đương thời vì đôi khi chúng ta giảm việc làm môn đệ của Chúa thành kẻ tin vào Ngài. Chẳng hạn như người ta thường hỏi, “Anh có phải là người tin vào Chúa không? Anh có tin vào Chúa Giêsu không?” Ý của họ là, “Bạn có thừa nhận bằng lý trí của mình Đức Giêsu là Đấng nào và những gì Ngài đã làm gì cho bạn, bạn có tin rằng những điều đó là sự thật không?” Điều này thực sự quan trọng, sự chấp nhận của trí óc là điều quan trọng.

Nhưng việc làm môn đệ bao gồm nhiều thứ hơn là trí tuệ rất nhiều. Vi bạn có thể tin và không thực thi bất cứ lời dạy nào của Chúa Giêsu. Bạn có thể tin Ngài là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa và không vâng lời Ngài, rời bỏ hoặc phản bội Ngài và hết thảy những thứ đó. Người môn đệ dích thực (theo như Chúa Giêsu nói)… “Cách người ta nhận biết anh em là học trò của Thầy là nếu anh em yêu như Thầy đã yêu thương, nếu anh em noi gương Thầy.” Và đây là tương quan thầy trò trong thế kỷ thứ nhất của văn hóa Do thái. Khi người ta nhận một ráp-bi làm thầy, việc làm học trò không bao giờ chỉ là bạn sẽ học ý tưởng của ông ấy và biến ý tưởng của ông ấy thành ý tưởng của bạn, mà là bạn sẽ đi cùng ông ấy theo con đường ông ấy đã bước đi. Bạn sẽ đi theo con đường mà ông ấy dẫn dắt. Điều đó thì khó hơn rất nhiều so với việc chỉ chấp nhận các định đề trí thức, cho các ý tưởng trừu tượng. Đó là điều quan trọng; một số thầy dạy sẽ không dạy sự thật nhưng ở đây không chỉ là sự thật thôi.

Nó là không chỉ là một hành động của trí tuệ (cách chúng ta hiểu biết), nhưng Chúa Giêsu đang nói ở đây là “Ta muốn các con thực hiện một hành động của ý chí, là chúng con hãy yêu thương.” Chúng ta hiểu biết bằng trí tuệ nhưng chúng ta lựa chọn bằng ý chí. Chúng ta biết bằng trí óc nhưng chúng ta yêu bằng trái tim (với ý chí), nơi sâu thẳm nhất của con người, nơi một người chọn đi theo, hay chống lại Chúa.

Một lý do khác khiến nó có ý nghĩa là vì nếu bạn nghĩ về trí tuệ của thiên thần. Trong Kinh Thánh, chúng ta đọc về những thiền thần xấu xa (như Satan). Chúng nó biết sự thật, trí tuệ của chúng nắm bắt được sự thật, nhưng ý chí của chúng từ chối việc đón nhận sự thật. Vì vậy, bạn có thể biết tất cả sự thật trên thế giới và vẫn mất sự sống đời đời nếu bạn không yêu thương, nếu ý chí của bạn không chọn làm điều tốt lành cho người khác.

Vì vậy, Chúa Giêsu ở đây đang đưa ra một điều răn và nó không chỉ là một điều răn phụ mà là điều răn căn bản. Nếu chúng ta không yêu nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta, thì chúng ta không thực sự là môn đệ của Ngài. Đó là mặt trái của điều răn mới này. Việc bày tỏ tình yêu thương trong Hội thánh trở thành một thử nghiệm nền tảng cho tính xác thực của tư cách môn đệ, không chỉ tin vào Chúa Giêsu, nhưng là yêu như Chúa Giêsu đã yêu và sống như Chúa Giêsu đã sống. -- Dr. Brant Pitre

Chúa Nhật thứ I Mùa Chay, năm C: Đức Giê-su được Thánh Thần dẫn vào hoang địa và chịu cám dỗ

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (4:1-13)

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được đầy Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói. Bấy giờ, quỷ nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!” Nhưng Đức Giê-su đáp lại : “Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.”

Sau đó, quỷ đem Đức Giê-su lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người: “Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông.” Đức Giê-su đáp lại: “Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”

Quỷ lại đem Đức Giê-su đến Giê-ru-sa-lem và đặt Người trên nóc Đền Thờ, rồi nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn. Lại còn chép rằng : Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” Bấy giờ Đức Giê-su đáp lại: “Đã có lời rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”

Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.

 


 

Đây có phải là thử thách thật đối với Chúa Giêsu? Đây có là một cám dỗ thật cho Ngài? Tôi nghĩ nó là thật, theo cách là nơi bản tính con người của Ngài, Chúa Giêsu ao ước để tỏ lộ bản chất thật của Ngài, để được mọi người tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa – nhiều người sẽ tin nếu họ nhìn thấy Ngài bay trên không trung của Núi Đền thờ. “Rõ ràng ông này là con của Thiên Chúa, hoặc rõ ràng người này có quyền năng từ Thiên Chúa.” Thế nhưng, đó không phải là những gì họ đã nói khi Ngài bị treo trên thập giá ở đồi Canvê. Họ nói, “Nếu ông là Con Thiên Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập tự giá.” Lời này lặp lại lời cám dỗ của Sa-tan trong đoạn Kinh thánh này: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy chứng minh điều đó. Hãy chứng minh nó.”

Và Chúa Giêsu đã làm gì? Trong mỗi trường hợp cám dỗ, việc Chúa Giêsu làm là Ngài gánh chịu nơi bản thân mình những cám dỗ của Ađam và chiến thắng chúng. Trong khi Ađam sa ngã vì dục vọng của tính xác thịt, Chúa Giêsu đã chiến thắng. Ađam sa ngã vì dục vọng của đôi mắt, thì Chúa Giêsu đã chiến thắng nó. Ađam bị sự kiêu ngạo khống chế, Chúa Giêsu đã khiêm nhường và vâng lời thánh ý của Cha mình. Chúa Giêsu là một Adam mới, Ngài tiêu hủy hậu quả của sự sa ngã của Ađam.

Nếu bạn có chút nghi ngờ nào về điểm này, bạn hãy nhớ rằng Luca 4:1 là phần khởi đầu của tường thuật Chúa chịu cám dỗ và nó xuất hiện ngay sau Luca 3:38, là phần cuối trong gia phả của Chúa Giêsu. Gia phả của Chúa Giêsu trong Phúc âm thánh Luca không giống với Mát-thêu. Mát-thêu bắt đầu với Áp-ra-ham và Đa-vít, sau đó mới đến Giô-sép. Gia phả của Lu-ca bắt đầu với Giô-sép và đi ngược lại đến Ađam. Cụm từ cuối cùng của gia phả, trước tường thuật về cuộc cám dỗ trong Phúc âm Lu-ca là, “Sết con A-đam và A-đam là con Thiên Chúa.”

Thánh sử Luca vừa nói với chúng ta về Ađam. Lúc này Luca nói về Chúa Giêsu đi vào sa mạc, gánh chịu ba cám dỗ, những cám dỗ của Ađam xưa và cho chúng ta  thấy Chúa Giêsu đang vượt thắng chúng. Đó là những gì đang diễn ra qua ba cám dỗ trong sa mạc, đó là lý do tại sao chúng ta dùng bài đọc này cho Mùa Chay. Vì chúng ta thực sự đúc kết lại nơi bản thân mình những cám dỗ của Chúa Giêsu.

Cũng như Chúa Giêsu đã trải qua bốn mươi ngày bốn mươi đêm trong sa mạc, chúng ta cũng bước vào 40 ngày 40 đêm của Mùa Chay. Và trong thời gian này, chúng ta được kêu gọi làm ba điều: cầu nguyện (cách chuyên cần và sốt sắng hơn), ăn chay (các triệt để hơn), và bố thí (cách quảng đại hơn). Đây là lý do tại sao bài đọc cho Thứ Tư Lễ Tro là từ Mát-thêu chương 6. Khi anh em cầu nguyện, đừng phô trương; khi anh em ăn chay (phải là một phần của cuộc sống, chứ không là nếu/khi mà anh em ăn chay), đừng cho ai biết; và khi anh em bố thí, đừng khua chiêng đánh trống, hãy làm cách kín đáo. Mỗi một trong ba chỉ thị mà Chúa Giêsu đưa ra trong Bài Giảng Trên Núi (và trong bài đọc ngày thứ Tư Lễ Tro) được gắn liền với ba cơn cám dỗ.

Vậy tôi phải làm gì để chiến thắng dục vọng của tính xác thịt? Tôi làm cách nào để chống lại rối loạn ham muốn của mình đối với khoái cảm xác thịt? Bằng cách làm cho ao ước đó mất đi nhờ việc hãm mình ép xác của ăn chay. Điều này rất là quan trọng. Chúa Giêsu cho rằng các môn đệ của Ngài sẽ ăn chay và Giáo hội kêu gọi chúng ta không chỉ ăn kiêng (kiêng thịt) trong các ngày thứ Sáu Mùa Chay, nhưng Giáo hội đọc những lời Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta ăn chay.

Hiện nay, chúng ta chỉ buộc ăn chay vào thứ Tư Lễ tro và thứ Sáu Tuần Thánh, đó là hai ngày ăn chay ràng buộc. Nhưng truyền thống của Giáo hội từ xa xưa đã là Mùa Chay là mùa ăn chay. Vì vậy, bất cứ việc kiêng ăn nào bạn làm (hoặc không làm) trong Mùa Thường niên, cần được tăng cường trong Mùa Chay; chúng ta cần phải có một cam kết sẽ ăn chay. Không phải vì thức ăn là tội lỗi, mà là vì nó ngon, vì chúng ta quá gắn bó với nó. Cho nên để gầy dựng nhân đức khỏi dính bén vào dục vọng của tính xác thịt, chúng ta ăn chay.

Cũng vậy với dục vọng của đôi mắt. Bạn có gặp khó khăn với những rối loạn ham muốn để có sở hữu không? Vậy thì hãy bố thí. Thực hiện các hành động bác ái và bố thí trong Mùa Chay - không chỉ trong dịp Lễ Giáng sinh mà cả trong Mùa Chay - để giúp gầy dựng nhân đức không bị gắn chặt vào của cải.

Và cuối cùng, cầu nguyện giúp chúng ta phát triển đức tính khiêm nhường. Bạn có kiêu căng tự phụ không? Bạn có tính ích kỷ, tự ái không? (Nếu bạn là thuộc về giống người, xin hãy nói có). Vậy thì hãy cầu nguyện. Tăng cường việc cầu nguyện của bạn, bởi vì nhờ cầu nguyện, chúng ta biết khiêm tốn hơn. Vì nếu bạn cố gắng cầu nguyện cho bất kỳ khoảng thời gian dài ngắn nào, bạn sẽ học biết cách rất nhanh chóng rằng bạn không biết cầu nguyện. Bạn có đủ năng lực để làm mọi việc khác trong cuộc sống, cho dù đó là kinh doanh hay tài chính hay bất kỳ kỹ năng nào, nhưng về cầu nguyện, bạn giống như một đứa trẻ chỉ đang lẫm chẫm bước ở phía cạn của hồ bơi.

Vì vậy, chúng ta cần phát triển sức mạnh của mình, phát triển nhân đức khiêm nhường, nhận biết rằng cầu nguyện là một món quà Chúa ban và lớn lên trong việc cầu nguyện là một ân sủng. Chúng ta cần sự hỗ trợ của Chúa để cầu nguyện.

Vì vậy, những kỷ luật tâm linh cho Mùa Chay theo truyền thống là: cầu nguyện, ăn chay và bố thí. Trong Mùa Chay này, đừng chỉ ăn chay để giảm một vài cân hay kiêng ăn sô cô la. Chúa Giêsu không đến thế gian để chúng ta kiêng sô-cô-la bốn mươi ngày một năm. Ngài đến thế giới để giúp đỡ chúng ta, để đỉ ra cho chúng ta rằng chúng ta có thể vượt qua ba dục vọng này. Ngài đã vượt thắng nó, đã ban cho chúng ta ân sủng và sức mạnh để cũng chiến thắng được nó. Ngài ban cho chúng ta những kỷ luật thiết thực để có thể làm điều đó: cầu nguyện, ăn chay và bố thí.

Và nếu bạn sống đời tu trì, nếu bạn sống đời thánh hiến, bạn sống điều đó một cách triệt để trong cuộc sống qua ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.

Bài suy niệm của Dr. Brant Pitre


Chú giải của đoạn Luca 4:1-13 qua hình ảnh: