Bài giảng của ĐTC Phanxicô cho Chúa Nhật thứ XXIII, Mùa Thường niên, năm B

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô (Mc. 7, 31-37)

Khi ấy, Đức Giê-su bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói : Ép-pha-tha, nghĩa là : hãy mở ra ! Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. Đức Giê-su cấm họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng cấm, họ càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói : “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.”

 


 

Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay tường thuật cho chúng ta giai thoại Đức Giêsu chữa lành một cách thật kỳ diệu một người bị câm điếc. Người ta mang đến cho Đức Giêsu một người bị câm điếc và người ta cầu xin Người đặt tay chữa lành anh. Nhưng trái lại, Đức Giêsu lại thực hiện trên người câm điếc này những loạt những cử chỉ: trước tiên, Người đưa anh ra một nơi xa, xa hẳn đám đông dân chúng. Trong dịp này, cũng như trong những trường hợp khác, Đức Giêsu luôn luôn hành động một cách kín đáo. Người không muốn gây ấn tượng mạnh nơi dân chúng, Người không hề tìm cho mình được lòng dân chúng, hay được thành công, nhưng Người chỉ muốn làm điều thiện, làm điều tốt lành cho mọi người. Qua thái độ này, Người dạy chúng ta rằng, điều thiện phải được thực hiện cách âm thầm, không phô trương khoác lác, “không kèn không trống”. Việc thiện phải được thực hiện trong sự thinh lặng.

Khi Đức Giêsu đã ở riêng ra một nơi, thì Người liền đặt các ngón tay của Người trong đôi tại của người câm điếc, và Người dùng nước miếng của Người xức vào lưỡi của người câm điếc. Cử chỉ này đưa chúng ta về lại biến cố Nhập Thể. Con Thiên Chúa là một con người đã đi vào trong thực thể nhân văn: Người đã làm người, chính vì thế, Người có thể hiểu được thân phận khó nhọc của một con người khác, và Người can thiệp với một cử chỉ, mà qua đó, bao hàm cả nhân tính của Người. Và đồng thời, Đức Giêsu cũng muốn làm cho chúng ta hiểu rằng, phép lạ có được là nhờ Người kết hợp với Cha của Người; và để được thế, Người ngước mắt lên trời. Đoạn Người thốt lên một tiếng thở dài, và Người đọc lời mang tính quyết định: “Effata!”, nghĩa là: “Ngươi hãy mở ra!” Và ngay lúc ấy, người câm điếc đã được chữa lành: đôi mắt của anh đã được mở ra, và lưỡi của anh đã được tháo cởi. Đối với anh, chữa lành này là một sự “mở ra” với người khác và với thế giới.

Trình thuật Phúc Âm hôm nay làm nổi bật nét đòi hỏi phải có một sự chữa lành kép. Trước tiên, chữa lành khỏi bệnh tật, và khỏi sự đau khổ về mặt thể lý, để thân xác phục hồi được sức khỏe, ngay cả khi chúng ta không đạt được một cách hoàn toàn mục đích tính này trong viễn tượng trần thế, dầu cho có nhiều nỗ lực về mặt khoa học và y học. Nhưng chúng ta cũng thấy có một vụ chữa lành thứ hai, có thể là khó khăn hơn nhiều, đó là chữa lành khỏi sự sợ hãi. Chữa lành khỏi sự sợ hãi, một sự sợ hãi làm cho chúng ta gạt ra ngoài lề xã hội bệnh nhân, gạt ra ngoài lề xã hội con người đang đau khổ, con người khuyết tật. Và có nhiều hình thức gạt ra ngoài lề xã hội như thế, thậm chí với một sự thương hại mang tính giả hiệu, hay bằng cách loại trừ vấn nạn; người ta vẫn cứ sống cấm điếc, khi đối diện với những nỗi đau khổ của những con người bị ghi dấu bởi bệnh tật, bởi những âu lo và bởi những khó khăn vất vả. Rất nhiều khi bệnh nhân và người đau khổ trở thành một vấn nạn cho chúng ta, thay vì phải trở nên dịp để chúng ta và xã hội có thể biểu lộ sự ân cần, và tình liên đới đối với những con người yếu đuối nhất.

Đức Giêsu đã mặc khải cho chúng ta bí quyết của một phép lạ mà chúng ta cũng có thể lập lại, khi chúng ta trở nên những con người chủ chốt trong phép lạ “Effath”, những con người chủ chốt của từ ngữ này, của từ ngữ “Ngươi hãy mở ra”, mà qua đó, Đức Giêsu đã cho người câm điếc được phục hồi lại lời nói và thính giác. Ở đây muốn nói đến việc chúng ta mở rộng lòng ra với những điều cần thiết của anh chị em chúng ta đang đau khổ, và đang cần sự giúp đỡ của chúng ta, bằng cách từ chối tính ích kỷ và sự khép kín con tim. Chính con tim, nghĩa là hạt nhân sâu xa của con người, mà Đức Giêsu đã đến để “mở ra”, đã đến để giải phóng, để mang lại cho chúng ta khả năng sống trọn vẹn mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Người đã làm người, để cho con người vì tội lỗi đã bị câm điếc về mặt nội tâm, lại có thể lắng nghe lời Thiên Chúa, lời Tình Yêu đang nói với con tim của con người, và như thế, học biết đến phiên mình, cũng nói ngôn ngữ của tình yêu, bằng cách biểu lộ ngôn ngữ này qua những cử chỉ quảng đại và tận hiến.

Ước gì Đức Maria, Đấng đã hoàn toàn “mở rộng lòng” đón nhận tình yêu Chúa, giúp chúng ta mỗi ngày, trong đức tin, trải nghiệm được phép lạ “Effath”, để sống hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta.

Bài giảng của ĐTC Phanxicô cho Chúa Nhật thứ XVII Mùa Thường niên, năm B

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (Gioan 6:1-15)

Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia biển hồ Ga-li-lê, cũng gọi là biển hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người: “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

 


 

Bài Phúc Âm hôm nay (x. Ga 6, 1-15) trình bày việc Chúa hoá bánh và cá ra nhiều. Khi thấy đám đông đi theo Người gần hồ Tiberia, Đức Giêsu ngỏ lời với Phi-líp-phê và hỏi ông: “Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu cho ngần này người ăn?” (c. 5). Vì chưng, chỉ một chút ít tiền cỏn con mà Đức Giêsu và các tông đồ đang có được trong tay thì chẳng đủ để nuôi số người đông đảo như thế này. Thì này đây Thánh Anrê, một trong Nhóm Mười Hai dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một cậu bé trai có sẵn trong tay những gì mình có: năm cái bánh và hai con cá, nhưng dĩ nhiên - ông Anrê nói - mấy cái đó thì chẳng thấm béo gì cho đám người đông đảo như thế này (x. c. 9). Cậu bé trai này thật tốt lành biết bao, thật tốt bụng biết mấy! Thật can đảm biết chừng nào. Cậu cũng thấy đám đông và cậu thấy năm cái bánh của mình. Cậu bé đã nói: “Con có cái này: nếu nó có ích, thì con sẵn lòng cho”. Cậu bé trai này làm cho chúng ta suy nghĩ... Sự can đảm này... Các bạn trẻ là như thế đó, họ có lòng can đảm. Chúng ta phải giúp đỡ các bạn trẻ duy trì sự can đảm này. Thế nhưng, Đức Giêsu truyền lệnh cho các môn đệ cho dân chúng ngồi xuống, đoạn Người cầm lấy những chiếc bánh và những con cá này, Người tạ ơn Cha và phân phát cá và bánh (x. c. 11), và tất cả đã có thực phẩm để ăn thoải mái. Tất cả đã ăn theo như họ ước muốn.

Với trang Phúc Âm này, phụng vụ khuyến khích chúng ta đừng rời con mắt chúng ta khỏi Đức Giêsu này, Đấng mà Chúa Nhật vừa qua, trong Phúc Âm theo Thánh Marcô, khi thấy “một đám người đông đảo [..] đã chạnh lòng thương xót” (6, 34).

Cậu thiếu niên có năm cái bánh này, cậu cũng đã hiểu được sự cảm thương này, và cậu thiếu niên đã nói: “Tội nghiệp cho những con người này quá! Con, con có cái này....” Lòng trắc ẩn đã làm cho cậu bé biếu tặng những gì mình có. Vì chưng, ngày hôm nay, Thánh Gioan cũng chỉ cho chúng ta thấy Đức Giêsu quan tâm đến nhu cầu thiết yếu của con người. Giai thoại xuất phát từ một sự kiện cụ thể: người ta đói bụng, và Đức Giêsu chất vấn các môn đệ của Người để họ biết cơn đói này phải được no thoả. Đó là sự kiện cụ thể.

Đức Giêsu không chỉ giới hạn trong việc cho các đám đông bánh ăn - Người đã ban tặng Lời của Người, sự an ủi của Người, ơn cứu độ của Người, và cuối cùng là sự sống của Người - nhưng dĩ nhiên, Người cũng đã làm điều đó nữa: Người đã chăm lo của ăn của thân xác. Và chúng ta là những môn đệ của Người, chúng ta không thể làm bộ làm tịch là không biết gì hết. Chỉ có khi nào chúng ta lắng tai nghe những yêu cầu đơn giản nhất của con người, và đặt mình vào những tình huống hiện sinh cụ thể của họ, thì chỉ lúc đó, người ta mới có thể nghe những điều chúng ta nói về những giá trị cao cả hơn.

Tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại đói cơm đói bánh, đói tự do, đói công lý, đói hoà bình, và nhất là đói ân sủng thần linh của Thiên Chúa, tình yêu đó không bao giờ thiếu cả. Ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn tiếp tục nuôi sống, vẫn còn tiếp tục hiện diện cách sống động và đầy sức an ủi, và Người làm điều đó xuyên qua con người chúng ta. Chính vì thế, Phúc Âm mời gọi chúng ta hãy sẵn sàng và tích cực, như cậu thiếu niên nhận thấy mình có năm chiếc bánh và đã nói: “Con cho Thầy những chiếc bánh này, và sau đó, là công việc của Thầy, Thầy coi Thầy sẽ làm gì nào...”. Khi đối diện với tiếng kêu đói - đủ loại “đói” - của biết bao nhiêu anh chị em chúng ta trên khắp mọi vùng đất của thế giới này, chúng ta không thể vẫn cứ là những khách bàng quan, dửng dưng và bình thản. Loan báo Đức Kitô, là bánh sự sống đời đời, đòi hỏi chúng ta phải có một cam kết liên đới quảng đại đối với những người nghèo, đối với những người yếu đuối, những người rốt cùng, những người không có một tấc sắt để bảo vệ mình. Hành động diễn tả sự gần kề và bác ái này là công việc thẩm tra tốt đẹp nhất để biết được chất lượng đức tin của chúng ta, cả trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện cộng đoàn.

Kế đó, vào cuối trình thuật, khi tất cả mọi người đã ăn no nê, thì Đức Giêsu nói với các môn đệ thu lượm lại những thức ăn dư thừa, để không đánh mất một mẩu vụn nào cả. Và tôi muốn đề nghị với anh chị em câu nói này của Đức Giêsu: “Các con hãy thu lượm những miếng bánh còn dư để không mất đi một miếng bánh nào cả” (c. 12). Tôi nghĩ đến những con người đang đói khát, và nghĩ đến số lượng những thực phẩm dự thừa mà chúng ta đã ném đi... Ước gì mỗi người trong chúng ta nghĩ: những thực phẩm dự thừa từ bữa ăn trưa, từ bữa ăn tối, chúng đi đâu? Ở tại nhà tôi, người ta làm gì với những thực phẩm dư thừa đó? Chúng bị ném đi ư? Không. Nếu bạn có thói quen ném đồ ăn đi, thì tôi sẽ cho bạn một lời khuyên: bạn hãy nói chuyện với ông bà nội của bạn là những người đã sống sau thời hậu chiến, và bạn hãy hỏi các ngài đã làm gì với những những thực phẩm còn dư đó. Anh chị em đừng có bao giờ vứt đi những thực phẩm còn dư. Chúng ta phải tái sử dụng thực phẩm còn dư, hay cho những ai có thể ăn, cho những ai cần thực phẩm đó. Anh chị em đừng bao giờ vứt bỏ thực phẩm còn dư. Đây là một lời khuyên và cũng là một việc xét mình: anh chị em làm gì ở nhà với những thực phẩm còn dư đó?

Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, để cho những chương trình dành cho việc phát triển, dành cho việc cung cấp thực phẩm, dành cho việc liên đới luôn chiếm được một vị trí ưu tiên trên toàn thế giới, chứ không phải những chương trình dành cho hận thù, vũ trang và chiến tranh.

Và anh chị em đừng quên hai điều này: một bức hình, một bức ảnh và một câu nói, một câu hỏi. Bức ảnh về cậu thiếu niên can đảm mang lại một phần nhỏ nhoi mình có để nuôi một lượng lớn người. Anh chị em hãy can đảm, hãy luôn luôn can đảm. Và câu nói này là một câu hỏi, một sự tự vấn lương tâm: anh chị em làm gì nhà với thực phẩm còn dư? Xin cảm ơn anh chị em! 

Bài giảng của ĐTC Phanxicô cho Chúa Nhật thứ XIV Mùa Thường Niên, năm B

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. (Gioan 20:24-29)

Có một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”

 


 

Đức Giêsu đảo lộn mọi giá trị và thúc giục chúng ta xem xét lại cuộc sống cá nhân và cộng đoàn

Trang Phúc Âm hôm nay (Mc 6, 1-6) giới thiệu Đức Giêsu trở về thành Nazareth, và vào ngày Sabattum, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Từ khi Người ra đi, và từ khi Người bắt đầu rao giảng trong các thị trấn và trong các làng lân cận cho đến nay, thì Người không bao giờ lại đặt chân về quê cha đất tổ của Người nữa. Do đó, cả thành ai nấy cũng đều hiện diện để lắng nghe người con của quê hương rao giảng, mà danh tiếng là một vị thầy khôn ngoan và là một người chữa bệnh quyền năng giờ đây đã được lan truyền khắp cả miền Galiea, và qua cả bên kia miền Galilea nữa. Nhưng điều đã có thể là một thành công vang dội thì nay đã biến thành một sự loại trừ khủng khiếp, đến độ Đức Giêsu không thể nào thực hiện được nơi đây một điều kỳ diệu nào cả, ngoại trừ một vài vụ chữa lành (x. c. 5).

Thánh Sử Marcô đã tái tạo lại ngày năng động này một cách thật chi tiết: trước tiên, dân thành Nazareth lắng nghe và lòng đầy thán phục, đoạn họ phân vân tự nhủ: “điều này có thể từ đâu mà đến được nhỉ?”, sự khôn ngoan này từ đâu mà đến thế?; và cuối cùng, họ cảm thấy công phẫn, khi nhận ra trong Người chỉ là một anh chàng thợ mộc làm sườn nhà, và là người con trai của bà Maria mà họ đã từng chứng kiến lớn lên (c.C. 2-3). Chính vì thế, Đức Giêsu kết luận bằng một câu nói nay đã trở thành câu tục ngữ: “Một tiên tri chỉ bị khinh dể trong quê hương làng xóm của mình mà thôi” (c. 4).

Chúng ta tự hỏi: làm thế nào mà những người đồng hương với Đức Giêsu lại đi từ sự thán phục sang sự cứng lòng tin cho được chứ? Họ so sánh nguồn gốc thật tầm thường của Đức Giêsu với những khả năng của Người hiện nay: đây là một người thợ mộc làm sườn nhà, người này chẳng học hành gì cả, thế nhưng lại rao giảng thật tuyệt vời hơn cả những kỷ lục, và lại làm phép lạ nữa chứ. Và thay vì mở lòng đón nhận thực tế, họ lại đâm ra công phẫn. Theo những người dân thành Nazareth này, thì Thiên Chúa quá ư vĩ đại nên không thể nào hạ mình nói qua một con người quá ư tầm thường như thế được!

Đó là điều kỳ chướng của mầu nhiệm Nhập Thể: biến cố quá ư làm cho người ta bối rối của một vị Thiên Chúa làm người có thịt có xương, của một vị Thiên Chúa suy nghĩ với tâm trí của một con người, của một vị Thiên Chúa làm việc và hành động với đôi bàn tay của một con người, của một vị Thiên Chúa yêu thương với một con tim của một con người, của một vị Thiên Chúa có những nỗi khó khăn, của một vị Thiên Chúa ăn và ngủ như một người trong số chúng ta. Con Thiên Chúa đảo lộn bất cứ sơ đồ nào của con người: không phải các môn đệ đã rửa chân cho Chúa, nhưng chính Chúa lại rửa chân cho các môn đệ của mình (Ga 13, 1-20). Đây là một lý do gây nên điều kỳ chướng và cứng lòng tin, không phải chỉ ở vào thời đại đó, mà còn ở vào mỗi thời đại, và ngay cả vào ngày hôm nay của chúng ta nữa.

Việc Đức Giêsu đảo lộn khuyến khích các môn đệ của ngày hôm qua và của ngày hôm nay thực hiện một cuộc thẩm tra về mặt cá nhân và cộng đoàn. Vì chưng, ngay cả ngày hôm nay nữa, có thể là chúng ta đang nuôi những thành kiến ngăn cản chúng ta nắm bắt được thực tế. Nhưng Chúa mời gọi chúng ta có một thái độ biết lắng nghe một cách khiêm nhường và ngoan ngoãn chờ đợi, là vì ơn Chúa thường đến với chúng ta bằng nhiều cách thật đáng ngạc nhiên, và những cách thức đó không hề tương ứng với những mong mỏi đợi chờ của chúng ta.

Chẳng hạn, chúng ta hãy cùng nhau nghĩ đến Mẹ Têrêsa thành Calcutta. Một người nữ tu bé nhỏ - có lẽ người ta đã không hề cho Mẹ một xu nhỏ - Mẹ đã rong ruổi khắp các con phố đi tìm những người đang hấp hối, để họ được chết một cách xứng đáng. Bằng lời cầu nguyện và bằng việc làm của Mẹ, người nữ tu bé nhỏ này đã làm nên những điều kỳ diệu! Sự bé nhỏ của một người phụ nữ đã cách mạng hoá công việc bác ái của Giáo Hội. Đó là một tấm gương cho ngày hôm nay.

Thiên Chúa không hề thuận theo những thành kiến. Chúng ta phải cố gắng mở rộng con tim và tâm trí của chúng ta, để đón nhận thực tế thần linh đến gặp gỡ chúng ta. Ở đây chúng ta muốn nói đến việc chúng ta phải có đức tin: việc thiếu đức tin là một trở ngại không cho chúng ta nhận được ơn Chúa. Nhiều người đã được rửa tội sống như thể không có Đức Kitô vậy: người ta lập lại những cử chỉ và những dấu chỉ đức tin mà không hề có được một sự dính kết thực sự nào với con người Đức Giêsu và với Phúc Âm của Người cả. Mỗi Kitô hữu - tất cả chúng ta, mỗi người trong chúng ta đều được mời gọi đào sâu sự thuộc về mang tính cơ bản này, khi chúng ta tìm cách làm chứng cho việc mình thuộc về Đức Kitô, qua một thái độ sống cố kết thật chặt chẽ, cuộc sống mà sợi dây dẫn vẫn sẽ luôn luôn là tình bác ái.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa, nhờ lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, làm cho con tim cứng cỏi của chúng ta cũng như sự thiên cận của tâm trí chúng ta được trở nên mềm mỏng, để chúng ta luôn mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa, đón nhận chân lý của Chúa, và đón nhận sứ mệnh của lòng tốt lành và nhân hậu của Chúa được dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai cả. 

Giao Ước Mới: Chúa Nhật thứ V Mùa Chay

The New Covenant: 5th Sunday of Lent của Dr. John Bergsma

Trong Mùa Chay của Năm B này, Giáo hội đưa chúng ta đi qua một cuộc khảo sát qua Cựu Ước về những khoảnh khắc giao ước trọng đại. Chúng ta đã thấy giao ước với Nô-ê, giao ước với Áp-ra-ham, giao ước với Môi-se, sự thất bại trong giao ước của dân Do thái dẫn đến việc bị lưu đày, và cuối cùng, vào tuần thứ năm này, chúng ta chứng kiến lời hứa của Giao ước Mới qua giọng nói của nhà tiên tri Giê-rê-mia. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về sự đau khổ sắp tới mà Người phải trải qua để thiết lập Giao ước mới đó.

Bài đọc 1 từ Giêrêmia 31:31-34

31 Này sẽ đến những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, 32 không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập ; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng - sấm ngôn của Đức Chúa. 33 Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. 34 Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia : “Hãy học cho biết Đức Chúa”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa.

Đây là một trong những lời tiên tri nổi tiếng và quan trọng nhất trong toàn bộ Cựu Ước. Nó được trích dẫn đầy đủ trong Híp-ri chường 8, và là câu trích dẫn từ Cựu ước trong Tân ước. Đây là đoạn Kinh thánh duy nhất sử dụng chính cụm từ, “Giao ước mới” (Híp-ri berith hadashah).

Lưu ý rằng giao ước mới này là với “Nhà của Israel (10 chi tộc miền bắc bao gồm Samari) và Nhà của Giu-đa (2 chi tộc miền nam với Giêrusalem là Đền thờ),” nói cách khác, cả miền bắc và miền nam, do đó: tất cả mười hai chi phái Israel. Đây là lý do tại sao Chúa Giê-su bổ nhiệm mười hai tông đồ, và tại sao Ngài đi qua Sa-ma-ri (Gioan 4) cũng như Phêrô và Gioan (Công vụ 8), bởi vì người Sa-ma-ri là tàn dư của “Nhà Israel”.

Xin lưu ý rằng giao ước mới này không như giao ước Môi-se, “giao ước [của Ta] mà họ đã phá vỡ” khi thờ phường con Bò Vàng và nhiều lần phản bội sau đó. Tiếng Anh của chúng ta nói rằng, “họ đã phá vỡ giao ước của Ta, và Ta phải ra tay tỏ mình là chủ nhân của họ.” Điều này phản ánh sự phát triển của mối quan hệ giao ước giữa Israel và Đức Chúa Trời trong Ngũ Kinh (5 sách đầu của Cựu Ước). Thoạt đầu, giao ước được thiết lập với những lập pháp rất nhẹ nhàng, tương hỗ và mật thiết (Xuất hành 24: 1-8). Nhưng sau việc phản bội giao ước khi thờ con Bò vàng (Xuất hành 32), nhiều luật khác được thêm vào giao ước (Lê-vi 1-27), và sau những cuộc nổi loạn trong nơi sa mạc, hình thức cuối cùng của giao ước Môi-se (Đệ nhị luật) mang hình thức hiệp ước của chư hầu, một thỏa thuận nghiêm ngặt trong đó một vị vua lớn sẽ áp đặt các ràng buộc pháp lý đối với một người hầu nổi loạn.

Tuy nhiên, Giê-rê-mia 31:32 trong tiếng Híp-ri cho phép một bản dịch khác: “giao ước của Ta mà họ đã phá vỡ, mặc Ta là Vị Lang Quân của họ”. Ý nghĩa này của văn bản cũng đúng. Các ngôn sứ coi giao ước tại Sinai là một hôn ước giữa Thiên Chúa và dân Israel. Mặc dù Ngài đã ký kết giao ước huyết thống với họ (Xuất hành 24: 1-8), họ khinh thường tình nghĩa của Ngài và quay trở lại với các thần tượng của Ai Cập.

Giê-rê-mia có lẽ đã dự định cả hai ý nghĩa cho câu Giê-rê-mia 31:32. Đây là một ví dụ về cái mà chúng ta gọi là đa nghĩa hoặc nhiều nghĩa trong Kinh thánh.
Trong giao ước mới này, Thiên Chúa sẽ “đặt luật pháp của Ta trong họ và ghi vào lòng họ”. Chữ viết trong thế giới cổ đại thường liên quan đến việc cắt trên đất sét hoặc đá. Điều này nhắc chúng ta nhớ đến Công vụ 2:37, nơi sau khi Chúa Thánh Thần được đổ tràn trên những người đã tin, đám đông trong Lễ Ngũ Tuần nghe lời thì cảm thấy lời của Phêrô “cắt vào lòng họ và nói rằng ... chúng tôi  phải làm gì?" Xét cho cùng, Chúa Thánh Thần là luật mới của giao ước mới. Lễ Hiện Xuống là một đại lễ phụng vụ, tưởng niệm việc ban hành luật tại Nuis Sinai. Nhưng tại Sinai, luật pháp là bên ngoài, được viết trên đá. Vào Lễ Ngũ Tuần, luật pháp là bên trong, được ghi vào lòng. Như Thánh Phaolô sau này sẽ nói, “Vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời đổ đầy lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh là Đấng đã được ban cho chúng ta.” (Rm 5: 5) và “tình yêu là sự chu toàn luật lệ” (Rm 13:10).
“Ta sẽ là Chúa của họ và họ sẽ là dân của Ta,” được các học giả gọi là công thức của giao ước: lời tuyên bố trực tiếp về mối quan hệ đang được hình thành. Có thể cụm từ này được mô phỏng theo nghi lễ kết hôn của người Israel cổ đại, trong đó có một câu nói của người chồng, “Anh sẽ là chồng của em và em sẽ là vợ của anh.”

Lời tuyên bố rằng “Bạn bè hàng xóm, hoặc anh em họ hàng không cần phải dạy bảo nhau… vì tất cả mọi người sẽ biết Ta,” không chỉ ra rằng sẽ không cần đến chức vụ giáo lý trong Giao ước mới. Thay vào đó, chúng ta nên nhận ra rằng “biết” trong tiếng Do Thái thường đề cập đến kiến ​​thức cá nhân, giống như “kennen” trong tiếng Đức. Vì vậy, A-đam “biết/know (bản văn Việt dùng ăn ở)”. Ê-va vợ ông và bà đã thụ thai (Sáng thế 4: 1). “Tất cả họ sẽ biết Ta,” có nghĩa là kiến ​​thức cá nhân, kinh nghiệm về Thiên Chúa được ban cho mọi thành viên của giao ước mới. Sự hiểu biết cá nhân này có được nhờ các bí tích, qua đó chúng ta thực sự gặp gỡ Thiên Chúa và nhận biết Người nhờ trải nghiệm, ngay cả khi cần phải nghiên cứu đức tin về mặt trí tuệ.
“Vì Ta sẽ tha tội cho họ và không nhớ tội họ nữa” - sự tha tội luôn đi kèm với sự ban Chúa Thánh Linh (xem Gioan 20: 22-23). Nhất thiết phải như vậy, bởi vì Chúa Thánh Linh không tương thích với tội lỗi, và tội trọng đã xua đuổi Chúa Thánh Linh. Mặt khác, Chúa Thánh Linh có thể xua đuổi tội lỗi luân lý. Chúa Thánh Linh và tội xung khắc lẫn nhau.

Đáp ca từ Thánh vịnh 51:3-4, 12-13, 14-15:
Đ.Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng.
3Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.4Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

Đ.Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng.
12Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.13Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.

Đ.Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng.
14Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,
và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;15đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.

Đ.Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng.


Đa-vít dường như đã sống trước trong Giao Ước Mới, bởi vì Chúa Thánh Linh đã được tuôn đổ (rushed) trên ông từ ngày ông được xức dầu trở đi, đến nỗi dường như ông đã có được sự sở hữu vững chắc của Chúa Thánh Linh. Ở đây, Đavít cầu nguyện, “đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài” —nói cách khác, Đavít không muốn đánh mất Chúa Thánh Linh do tội trọng. Ngài muốn có một tấm lòng trong sạch và tinh thần trung thành mà các ngôn sự nối kết nó với giao ước mới, trong Giêremia 31: 31-34 và Êdêkien 36: 25-29.

Bài đọc 2 từ Híp-ri 5:7-9
7 Thưa anh em, khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. 8 Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục ; 9 và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.
Đoạn này dường như phản ánh nỗi thống khổ của Chúa chúng ta trong vườn Ghết-sê-ma-nê. “gười đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” có nghĩa là gì? Con Một Thiên Chúa chẳng lẽ không có kiến ​​thức hoàn hảo sao? Ở đây một lần nữa tôi nghĩ chúng ta cần nói đến kiến ​​thức của trải nghiệm. Dĩ nhiên, Con Thiên Chúa biết thế nào là vâng lời; nhưng bản chất con người và thần tính của Ngài đều chưa trực tiếp trải qua đau khổ đi kèm với sự vâng lời, vì vậy theo nghĩa này Ngài đã “học” (tức là trải nghiệm kết quả của”) sự vâng lời.
Làm thế nào Chúa Giê-su có thể được làm cho “hoàn hảo”? Tôi nghĩ điều này được sử dụng để phản ánh thuật ngữ hiến tế cổ đại, trong đó một con vật “hoàn hảo” là con vật được chấp nhận được và sẵn sàng để đem đi giết. Chúa Giê-su đã được làm cho “hoàn hảo” trên thập tự giá, khi món quà hiến tế của ngài được “hoàn thiện” bằng việc được hiện thực hóa, bằng việc được đưa đến hình thức biểu đạt cao nhất. Khi sự hy sinh bản thân của Chúa Giêsu trở thành một sự hy sinh bản thân “hoàn hảo” mà đỉnh điểm là cái chết của Ngài, sự cứu rỗi đã được ban phát cho tất cả những ai gắn chặt vào Ngài.

Tin Mừng từ Gio-an 12:20-33

20 Khi ấy, trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. 21 Họ đến gặp ông Phi-líp-phê, người Bết-xai-đa, miền Ga-li-lê, và xin rằng : “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su.” 22 Ông Phi-líp-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su. 23 Đức Giê-su trả lời : “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! 24 Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.
27 “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến ! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28 Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.” Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống : “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa !” 29 Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói : “Đó là tiếng sấm !” Người khác lại bảo : “Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy !” 30 Đức Giê-su đáp : “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31 Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! 32 Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” 33 Đức Giê-su nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

Chương 12 là chương quan trọng trong Phúc Âm Gioan, nơi mà ba năm sứ vụ của Chúa Giê-su kết thúc và tuần Thương Khó bắt đầu. Chúa Giê-su nói về việc được “tôn vinh” qua thập tự giá. Điều này thật nghịch lý, nhưng hành động vinh quang nhất của Thiên Chúa là thập tự giá, nơi Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài đối với các tạo vật của Ngài bằng cách sẵn lòng gánh nhận cái chết. Bất kỳ vị thần nào cũng có thể chế ngự các loài sinh vật, nhưng một vị thần yêu thương chúng đến mức chịu đặt mình dưới sự lạm dụng của chúng mới là một vị Thần thực sự vĩ đại, một vị Thần đáng được tôn thờ.

Chúa Giê-su diễn tả nghịch lý lớn của Tin Mừng: sự tự trao hiến bản thân cho đến chết sẽ dẫn đến sự sống đời đời. Nhưng như Chúa Giê-su đồng ý trao hiến bản thân ấy, thì các môn đồ của Ngài cũng phải làm như vậy. “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy.”

 Chúa Giê-su cũng nói về thập tự giá như một sự phán xét khi kẻ thống trị thế giới này sẽ bị đuổi ra. Điều này có nghĩa là quyền lực của Sa-tan đã hoàn toàn bị đập tan tại thập tự giá. Đúng vậy, Sa-tan vẫn gây ra những khó khăn to lớn cho chúng ta, nhưng hắn chỉ có thể làm như vậy khi chúng ta đồng ý. Mỗi khi phạm tội, chúng ta đồng ý cho nó hoạt động. Nếu chúng ta khước từ để đồng ý với nó, chúng ta có quyền trên nó nhờ Chúa Thánh Linh. Giáo hội có quyền trên nó và có thể xua đuổi nó thông qua các bí tích và thông qua việc trừ quỷ.

“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Chúa Giêsu mãi trông chờ đến Bữa tiệc ly và cây thánh giá. Trong Bữa tiệc ly, Người sẽ nâng mình chính Ngài trong tay của Ngài và hiến dâng bản thân dưới hình bánh cho các tông đồ, thiết lập giao ước mới qua bí tích. Tại cây thập tự giá, thân thể của Ngài sẽ được nâng lên, vì Ngài xác nhận món quà dâng hiến bản thân tại lầu trên qua việc trao ban bản thân ngay cả khi việc đó dẫn Ngài đến cái chết. Trên thánh giá, Gioan là chứng nhân, chính mắt ngài nhìn thấy máu và nước chảy từ cạnh sườn Chúa Giêsu (Ga 18:34), đồng thời là dấu chỉ của Chúa Thánh Thần tuôn đổ từ thân xác Người — Thần Khí làm cho chúng ta trở thành con Thiên Chúa và làm tâm hồn chúng ta được tràn ngập với tình yêu - và còn là dấu chỉ của các bí tích (máu, Thánh Thể và nước, Rửa tội), là dòng sông xuyên không gian và thời gian mang đến cho chúng ta món quà của Chúa Thánh Thần.

Phúc Âm thánh Gioan là một Phúc âm nêu bật nghịch lý: Sự sỉ nhục lớn nhất của Chúa Giêsu là sự vinh hiển của Ngài; điều trông giống như chiến thắng của Satan là khi nó bị phán xét và là một cuộc trừ quỷ; Sự từ chối Chúa Giêsu trên thập tự giá sẽ dẫn đến việc Ngài kéo tất cả mọi người lên với chính mình.

Khi chúng ta bước qua những tuần cuối cùng của Mùa Chay, Kinh Thánh kêu gọi chúng ta suy ngẫm sâu sắc hơn về việc chúng ta đón nhận cái chết của chính mình — dưới dạng những “cái chết của bản thân,” những cái chết nho nhỏ  trong những hành vi từ chối bản thân, ý riêng của mình hàng ngày mà chúng ta đã thực hiện trong Mùa Chay. Những hiến dâng, những từ bỏ con người xác thịt này là con đường dẫn đến Giao ước mới và sự sống mới.